Jeremiah 23
JPS Tanakh (Jewish Publication Society, 1917)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Woe unto the shepherds that destroy and scatter the sheep of My pasture! saith the LORD.
1Đức Giê-hô-va phán: Khốn thay cho những kẻ chăn hủy diệt và làm tan lạc bầy chiên của đồng cỏ ta.
2Therefore thus saith the LORD, the God of Israel, against the shepherds that feed My people: Ye have scattered My flock, and driven them away, and have not taken care of them; behold, I will visit upon you the evil of your doings, saith the LORD.
2Vậy nên, về những kẻ chăn giữ dân Ngài, thì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán như vầy: Các ngươi làm tan lạc bầy chiên ta, đã đuổi đi và không thăm nom đến; nầy, ta sẽ thăm phạt các ngươi về những việc dữ mình làm, Đức Giê-hô-va phán vậy.
3And I will gather the remnant of My flock out of all the countries whither I have driven them, and will bring them back to their folds; and they shall be fruitful and multiply.
3Ta sẽ nhóm những con sót lại của bầy ta, từ các nước mà ta đã đuổi chúng nó đến. Ta sẽ đem chúng nó trở về trong chuồng mình; chúng nó sẽ sanh đẻ thêm nhiều.
4And I will set up shepherds over them, who shall feed them; and they shall fear no more, nor be dismayed, neither shall any be lacking, saith the LORD.
4Ta sẽ lập lên những kẻ chăn nuôi chúng nó; thì sẽ chẳng sợ chẳng hãi nữa, và không thiếu một con nào, Đức Giê-hô-va phán vậy.
5Behold, the days come, saith the LORD, that I will raise unto David a righteous shoot, and he shall reign as king and prosper, and shall execute justice and righteousness in the land.
5Đức Giê-hô-va phán: Nầy, những ngày đến, bấy giờ ta sẽ dấy lên cho Đa-vít một Nhánh công bình. Ngài sẽ cai trị làm vua, lấy cách khôn ngoan mà ăn ở, làm sự chánh trực công bình trong đất.
6In his days Judah shall be saved, and Israel shall dwell safely; and this is his name whereby he shall be called, The LORD is our righteousness.
6Đang đời vương đó, Giu-đa sẽ được cứu; Y-sơ-ra-ên sẽ ở yên ổn, và người ta sẽ xưng danh Đấng ấy là: Đức Giê-hô-va sự công bình chúng ta!
7Therefore, behold, the days come, saith the LORD, that they shall no more say: 'As the LORD liveth, that brought up the children of Israel out of the land of Egypt';
7Đức Giê-hô-va phán: Vậy nên những ngày đến, bấy giờ người ta sẽ chẳng còn nói rằng: Thật như Đức Giê-hô-va hằng sống, tức là Đấng đã đem con cái Y-sơ-ra-ên lên khỏi đất Ê-díp-tô.
8but: 'As the LORD liveth, that brought up and that led the seed of the house of Israel out of the north country, and from all the countries whither I had driven them'; and they shall dwell in their own land.
8Nhưng nói rằng: Thật như Đức Giê-hô-va hằng sống, tức là Đấng đã đem lên và dắt dòng dõi nhà Y-sơ-ra-ên về từ phương bắc, từ các nước mà ta đã đuổi họ đến. Chúng nó sẽ ở trong đất mình.
9Concerning the prophets. My heart within me is broken, all my bones shake; I am like a drunken man, and like a man whom wine hath overcome; because of the LORD, and because of His holy words.
9Về các tiên tri: Lòng ta tan nát trong ta; xương ta thảy đều run rẩy; ta như người say, như người xây xẩm vì rượu, bởi cớ Đức Giê-hô-va và những lời thánh của Ngài.
10For the land is full of adulterers; for because of swearing the land mourneth, the pastures of the wilderness are dried up; and their course is evil, and their force is not right.
10Trong đất đầy những kẻ tà dâm; vì cớ bị rủa sả thì đất nên sầu thảm; những đồng cỏ nơi đồng vắng đều khô khan. Người ta chạy theo đường dữ, sức chúng nó là không công bình.
11For both prophet and priest are ungodly; yea, in My house have I found their wickedness, saith the LORD.
11Vì chính kẻ tiên tri thầy tế lễ đều là ô uế, ta thấy sự gian ác chúng nó đến trong nhà ta; Đức Giê-hô-va phán vậy.
12Wherefore their way shall be unto them as slippery places in the darkness, they shall be thrust, and fall therein; for I will bring evil upon them, even the year of their visitation, saith the LORD.
12Cho nên đường chúng nó sẽ như nơi trơn trợt trong tối tăm, sẽ bị đuổi và vấp ngã tại đó. Vì đến năm chúng nó bị thăm phạt, ta sẽ giáng tai vạ trên chúng nó, Đức Giê-hô-va phán vậy.
13And I have seen unseemliness in the prophets of Samaria: they prophesied by Baal, and caused My people Israel to err.
13Ta đã thấy rõ sự điên dại của bọn tiên tri xứ Sa-ma-ri; chúng nó nhân danh Ba-anh mà nói tiên tri, khiến dân Y-sơ-ra-ên ta lầm lạc.
14But in the prophets of Jerusalem I have seen a horrible thing: they commit adultery, and walk in lies, and they strengthen the hands of evil-doers, that none doth return from his wickedness; they are all of them become unto Me as Sodom, and the inhabitants thereof as Gomorrah.
14Nhưng, nơi bọn tiên tri ở Giê-ru-sa-lem, ta đã thấy sự đáng gớm ghiếc: chúng nó phạm tội tà dâm, bước theo sự giả dối; chúng nó làm cho cứng vững tay kẻ dữ, đến nỗi chẳng ai xây bỏ sự ác của mình. Ta coi chúng nó thảy đều như Sô-đôm, và dân cư nó như Gô-mô-rơ.
15Therefore thus saith the LORD of hosts concerning the prophets: Behold, I will feed them with wormwood, and make them drink the water of gall; for from the prophets of Jerusalem is ungodliness gone forth into all the land.
15Vậy nên, về phần bọn tiên tri đó, Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Nầy, ta sẽ cho chúng nó ăn ngải cứu và uống mật đắng; vì các tiên tri ở Giê-ru-sa-lem đã làm cho sự vô đạo tràn ra trong cả xứ.
16Thus saith the LORD of hosts: Hearken not unto the words of the prophets that prophesy unto you, they lead you unto vanity; they speak a vision of their own heart, and not out of the mouth of the LORD.
16Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Chớ nghe những lời của các tiên tri nói tiên tri với các ngươi. Chúng nó dạy cho các ngươi sự hư không, và nói sự hiện thấy bởi lòng mình chẳng phải bởi miệng Đức Giê-hô-va.
17They say continually unto them that despise Me: 'The LORD hath said: Ye shall have peace'; and unto every one that walketh in the stubbornness of his own heart they say: 'No evil shall come upon you';
17Chúng nó cứ bảo kẻ khinh dể ta rằng: Đức Giê-hô-va phán, các ngươi sẽ được bình an. Lại bảo những kẻ bước theo sự cứng cõi của lòng mình rằng: Chẳng có tai họa nào đến trên các ngươi hết.
18For who hath stood in the council of the LORD, that he should perceive and hear His word? Who hath attended to His word, and heard it?
18Vậy ai đã đứng được trong sự bàn luận của Đức Giê-hô-va, để được ngắm xem và nghe lời Ngài? Ai đã suy xét và nghe lời Ngài?
19Behold, a storm of the LORD is gone forth in fury, yea, a whirling storm; it shall whirl upon the head of the wicked.
19Nầy, cơn giận của Đức Giê-hô-va đã phát ra như bão, như gió lốc, nổ trên đầu kẻ dữ.
20The anger of the LORD shall not return, until He have executed, and till He have performed the purposes of His heart; in the end of days ye shall consider it perfectly.
20Đức Giê-hô-va chưa làm trọn ý đã định trong lòng, thì cơn giận của Ngài sẽ chẳng trở lại. Trong ngày sau rốt, các ngươi sẽ rõ biết sự ấy.
21I have not sent these prophets, yet they ran; I have not spoken to them, yet they prophesied.
21Ta chẳng sai những tiên tri nầy, mà chúng nó đã chạy; ta chẳng phán với, mà đã nói tiên tri.
22But if they have stood in My council, then let them cause My people to hear My words, and turn them from their evil way, and from the evil of their doings.
22Nếu chúng nó có đứng trong sự bàn luận ta, thì đã khiến dân ta nghe lời ta, và đã làm cho dân từ đường dữ việc xấu mà trở lại rồi.
23Am I a God near at hand, saith the LORD, and not a God afar off?
23Đức Giê-hô-va phán: Ta có phải là Đức Chúa Trời ở gần mà không phải là Đức Chúa Trời ở xa sao?
24Can any hide himself in secret places that I shall not see him? saith the LORD. Do not I fill heaven and earth? saith the LORD.
24Đức Giê-hô-va phán: Có người nào có thể giấu mình trong các nơi kín cho ta đừng thấy chăng? Đức Giê-hô-va phán: Há chẳng phải ta đầy dẫy các từng trời và đất sao?
25I have heard what the prophets have said, that prophesy lies in My name, saying: 'I have dreamed, I have dreamed.'
25Ta nghe điều những kẻ tiên tri nầy nói, chúng nó nhân danh ta mà nói tiên tri giả dối, rằng: Ta có chiêm bao; thật, ta có chiêm bao!
26How long shall this be? Is it in the heart of the prophets that prophesy lies, and the prophets of the deceit of their own heart?
26Những tiên tri ấy, theo sự dối trá của lòng mình mà nói tiên tri, chúng nó có lòng ấy cho đến chừng nào?
27That think to cause My people to forget My name by their dreams which they tell every man to his neighbour, as their fathers forgot My name for Baal.
27Chúng nó mỗi người thuật chiêm bao cùng kẻ lân cận, tưởng sẽ khiến dân quên danh ta cũng như tổ phụ chúng nó vì Ba-anh quên danh ta.
28The prophet that hath a dream, let him tell a dream; and he that hath My word; let him speak My word faithfully. What hath the straw to do with the wheat? saith the LORD.
28Khi tiên tri nào có chiêm bao, hãy thuật chiêm bao ấy đi; còn kẻ nào đã lãnh lời ta, hãy truyền lại lời ta cách trung tín! Đức Giê-hô-va phán: Rơm rạ há xen vào với lúa mì sao?
29Is not My word like as fire? saith the LORD; and like a hammer that breaketh the rock in pieces?
29Lời ta há chẳng như lửa, như búa đập vỡ đá sao? Đức Giê-hô-va phán vậy.
30Therefore, behold, I am against the prophets, saith the LORD, that steal My words every one from his neighbour.
30Vậy nên Đức Giê-hô-va phán rằng: Nầy, ta nghịch cùng những kẻ tiên tri ăn cắp lẫn nhau về lời của ta.
31Behold, I am against the prophets, saith the LORD, that use their tongues and say: 'He saith.'
31Đức Giê-hô-va phán: Nầy, ta nghịch cùng những kẻ tiên tri dùng lưỡi mình nói ra, mà rằng: Ngài phán.
32Behold, I am against them that prophesy lying dreams, saith the LORD, and do tell them, and cause My people to err by their lies, and by their wantonness; yet I sent them not, nor commanded them; neither can they profit this people at all, saith the LORD.
32Đức Giê-hô-va phán: Nầy, ta nghịch cùng những kẻ lấy chiêm bao giả dối mà nói tiên tri, thuật lại và lấy lời dối trá khoe khoang mà làm cho dân ta lầm lạc, nhưng ta không sai và cũng không bảo chúng nó; chúng nó cũng không làm ích gì cho dân nầy hết, Đức Giê-hô-va phán vậy.
33And when this people, or the prophet, or a priest, shall ask thee, saying: 'What is the burden of the LORD?' then shalt thou say unto them: 'What burden! I will cast you off, saith the LORD.'
33Nếu dân nầy, kẻ tiên tri hay là thầy tế lễ, hỏi ngươi rằng: Gánh nặng của Đức Giê-hô-va là gì? Khá đáp rằng: Gánh nặng gì? Đức Giê-hô-va phán: Ta sẽ từ bỏ các ngươi.
34And as for the prophet, and the priest, and the people, that shall say: 'The burden of the LORD', I will even punish that man and his house.
34Còn như kẻ tiên tri, thầy tế lễ, và dân sẽ nói rằng: Gánh nặng của Đức Giê-hô-va, thì ta sẽ phạt người ấy và nhà nó.
35Thus shall ye say every one to his neighbour, and every one to his brother: 'What hath the LORD answered?' and: 'What hath the LORD spoken?'
35Vậy, nầy là câu mỗi người khá hỏi kẻ lân cận mình, mỗi người khá hỏi anh em mình rằng: Đức Giê-hô-va đã trả lời làm sao? Đức Giê-hô-va đã phán thể nào?
36And the burden of the LORD shall ye mention no more; for every man's own word shall be his burden; and would ye pervert the words of the living God, of the LORD of hosts our God?
36Bấy giờ chớ nói gánh nặng của Đức Giê-hô-va nữa; vì lời của mỗi một người sẽ là gánh nặng của nó, vì các ngươi đã làm trái những lời của Đức Chúa Trời hằng sống, của Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời chúng ta.
37Thus shalt thou say to the prophet: 'What hath the LORD answered thee?' and: 'What hath the LORD spoken?'
37Vậy ngươi khá hỏi kẻ tiên tri rằng: Đức Giê-hô-va đã trả lời cho ngươi làm sao? Hay là: Đức Giê-hô-va đã phán thể nào?
38But if ye say: 'The burden of the LORD'; therefore thus saith the LORD: Because ye say this word: 'The burden of the LORD', and I have sent unto you, saying: 'Ye shall not say: The burden of the LORD';
38Nhưng nếu các ngươi nói rằng: Gánh nặng của Đức Giê-hô-va, bởi cớ đó, Đức Giê-hô-va phán như vầy: Vì các ngươi nói lời nầy: Gánh nặng của Đức Giê-hô-va, và ta đã sai đến cùng các ngươi đặng bảo các ngươi rằng: Chớ còn nói rằng: Gánh nặng của Đức Giê-hô-va,
39therefore, behold, I will utterly tear you out, and I will cast you off, and the city that I gave unto you and to your fathers, away from My presence;
39nhân đó, nầy, ta sẽ quên hẳn các ngươi; ta sẽ bỏ các ngươi, và thành ta đã ban cho các ngươi và tổ phụ các ngươi, xa khỏi trước mặt ta.
40and I will bring an everlasting reproach upon you, and a perpetual shame, which shall not be forgotten.
40Ta sẽ khiến các ngươi chịu nhơ nhuốc đời đời, hổ thẹn vô cùng, không bao giờ quên được.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.