Suencuek 17
Baibal Olcim (Matupi Chin)Translation
Baibal Olcim (Matupi Chin)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Abram kum sawmko neh kum ko a lo ca vaengah Abram taengla BOEIPA phoe tih, “Kai tah Tlungthang Pathen ni. Kai mikhmuh ah pongpa lamtah cuemthuek la om lah.
1Khi Aùp-ram được chín mươi chín tuổi, thì Đức Giê-hô-va hiện đến cùng người và phán rằng: Ta là Đức Chúa Trời toàn năng; ngươi hãy đi ở trước mặt ta làm một người trọn vẹn.
2Ka paipi he kamah laklo neh nang laklo ah ka khueh vetih nang te muep muep kam ping sak ni,” a ti nah.
2Ta sẽ lập giao ước cùng ngươi, làm cho dòng dõi ngươi thêm nhiều quá-bội.
3Te dongah Abram loh a hmai la a bakop hatah Pathen loh,
3Aùp-ram bèn sấp mình xuống đất; Đức Chúa Trời phán cùng người rằng:
4“Kai khaw he, nang taengah ka paipi a om vanbangla namtom hlangping kah a napa la na om ni.
4Nầy, phần ta đây, ta đã lập giao ước cùng ngươi; vậy ngươi sẽ trở nên tổ phụ của nhiều dân tộc.
5Nang he namtom hlangping kah a napa la kan khueh coeng dongah na ming khaw Abram la n'khue voel mahpawh. Tedae nang ming te Abraham la om pawn ni.
5Thiên hạ chẳng còn gọi ngươi là Aùp-ram nữa, nhưng tên ngươi sẽ là Aùp-ra-ham, vì ta đặt ngươi làm tổ phụ của nhiều dân tộc.
6Nang te muep muep kan pungtai sak vetih namtom rhoek la kan khueh ni. Te vaengah nang taeng lamkah manghai rhoek ha thoeng ni.
6Ta sẽ làm cho ngươi sanh sản rất nhiều, làm cho ngươi thành nhiều nước; và các vua sẽ do nơi ngươi mà ra.
7Te vaengah ka paipi he kamah laklo neh nang laklo ah khaw, nang phoeikah na tiingan, amih kah cadilcahma laklo ah kumhal paipi la ka thoh ni. Nang ham neh nang phoeikah na tiingan ham Pathen la ka om ni.
7Ta sẽ lập giao ước cùng ngươi, và cùng hậu tự ngươi trải qua các đời; ấy là giao ước đời đời, hầu cho ta làm Đức Chúa Trời của ngươi và của dòng dõi ngươi.
8Te vaengah na lampahnah khohmuen Kanaan kho pum te kumhal khohut la nang neh nang phoeikah na tiingan taengah kam paek vetih amih taengah Pathen la ka om ni “a ti nah.
8Ta sẽ cho ngươi cùng dòng dõi ngươi xứ mà ngươi đang kiều ngụ, tức toàn xứ Ca-na-an, làm cơ nghiệp đời đời. Vậy, ta sẽ làm Đức Chúa Trời của họ.
9Te phoeiah Pathen loh Abraham taengah, “Te dongah ka paipi he nang namah ham khaw, nang phoeikah na tiingan ham khaw, amih kah cadilcahma ham khaw ngaithuen.
9Đoạn, Đức Chúa Trời phán cùng Aùp-ra-ham rằng: Phần ngươi cùng dòng dõi ngươi, từ đời nọ sang đời kia, sẽ giữ sự giao ước của ta.
10Ka paipi he kamah laklo neh nang laklo ah khaw, nang phoeikah na tiingan laklo ah ngaithuen vetih nangmih khuikah tongpa boeih te yahhmui rhet pah.
10Mỗi người nam trong vòng các ngươi phải chịu phép cắt bì; ấy là giao ước mà các ngươi phải giữ, tức giao ước lập giữa ta và các ngươi, cùng dòng dõi sau ngươi.
11Te dongah yahhmui na rhet vaengkah na yahhmui saa te kai laklo neh nang laklo kah paipi miknoek la om ni.
11Các ngươi phải chịu cắt bì; phép đó sẽ là dấu hiệu của sự giao ước giữa ta cùng các ngươi.
12Te phoeiah nangmih khuikah neh na cadilcahma, im kah cahlah, neh namah tiingan lamkah pawt tih tangka neh na lai kholong ca boeih khuikah tongpa boeih loh hnin rhet a lo ca vaengah yahhmui rhet saeh.
12Trải qua các đời, mỗi người nam trong vòng các ngươi, hoặc sanh đẻ tại nhà, hoặc đem tiền ra mua nơi người ngoại bang, chẳng thuộc về dòng giống ngươi, hễ lên được tám ngày rồi, đều phải chịu phép cắt bì.
13Na im kah cahlah long khaw, na tangka neh na lai long khaw, yahhmui a rhet rhoela a rhet daengah ni ka paipi loh na pumsa dongah kumhal paipi la a om eh.
13Chớ khá bỏ làm phép cắt bì cho ai sanh tại trong nhà ngươi, hay đem tiền ra mua về; sự giao ước của ta sẽ lập đời đời trong xác thịt của các ngươi vậy.
14Tedae amah kah yahhmui saa aka rhet mueh tongpa pumdul te tah ka paipi a kak sak dongah a pilnam khui lamkah tekah hinglu te khoe saeh,” a ti nah.
14Một người nam nào không chịu phép cắt bì nơi xác thịt mình, sẽ bị truất ra khỏi ngoài dân sự mình; người đó là kẻ bội lời giao ước ta.
15Te phoeiah Pathen loh Abraham taengah, “Na yuu Sarai amah ming neh na khue mahpawh. Anih ming Sarah te Sarai yuengla om coeng.
15Đức Chúa Trời phán cùng Aùp-ra-ham rằng: còn Sa-rai, vợ ngươi, chớ gọi là Sa-rai nữa; nhưng Sa-ra là tên người đó.
16Anih khaw yoethen ka paek vetih anih rhang neh nang ham capa khaw kan paek ni. Anih yoethen ka paek vetih namtom la coeng ni. Pilnam rhoek kah manghai rhoek khaw anih khui lamkah ha thoeng uh ni,” a ti nah.
16Ta sẽ ban phước cho nàng, lại do nơi nàng ta sẽ cho ngươi một con trai, Ta sẽ ban phước cho nàng, nàng sẽ làm mẹ các dân tộc; những vua của các dân tộc sẽ do nơi nàng mà ra.
17Te vaengah Abraham tah a maelhmai neh bakop tih a nueih doela a lungbuei khuiah , “Kum yakhat pa loh a sak vetih kum sawmko nu Sarah loh ca a cun koinih?” a ti.
17Aùp-ra-ham bèn sấp mình xuống đất, cười và nói thầm rằng: Hồ dễ người đã trăm tuổi rồi, mà sanh con được chăng? Còn Sa-ra, tuổi đã chín mươi, sẽ sanh sản được sao?
18Te dongah Abraham loh Pathen taengah, “Na hmai ah Ishmael mah hing mai koinih,” a ti nah.
18Aùp-ra-ham thưa cùng Đức Chúa Trời rằng: Chớ chi ỗch-ma-ên vẫn được sống trước mặt Ngài!
19Tedae Pathen loh, “Thuem ngawn dae na yuu Sarah loh nang ham capa han cun vetih a ming te Isaak na sui ni. Ka paipi khaw anih neh anih phoeikah a tiingan ham dungyan paipi la ka thoh ni.
19Đức Chúa Trời bèn phán rằng: Thật vậy, Sa-ra vợ ngươi, sẽ sanh một con trai, rồi ngươi đặt tên là Y-sác. Ta sẽ lập giao ước cùng nó, để làm giao ước đời đời cho dòng dõi của nó.
20Tedae Ishmael ham khaw ka yaak ngawn ne. Anih khaw yoethen ka paek vetih ka pungtai sak ni. Muep muep ka ping sak phoeiah khoboei hlai nit a sak vetih pilnu la ka khueh ni.
20Ta cũng nhậm lời ngươi xin cho ỗch-ma-ên. Nầy, ta ban phước cho người, sẽ làm cho người sanh sản và thêm nhiều quá-bội; người sẽ là tổ phụ của mười hai vị công-hầu, và ta làm cho người thành một dân lớn.
21Tedae ka paipi he Isaak taengah ni ka thoh eh. Anih te hmai kum kah tahae khoning vaengah Sarah loh nang hamla a cun ni,” a ti nah.
21Nhưng ta sẽ lập giao ước ta cùng Y-sác, độ khoảng nầy năm tới Sa-ra phải sanh cho ngươi.
22Anih taengah thui ham te a khah van neh Pathen khaw Abraham taeng lamkah nong.
22Khi Đức Chúa Trời đã phán xong, thì Ngài từ Aùp-ra-ham ngự lên.
23Te dongah Abraham loh a capa Ishmael khaw, a im kah cahlah boeih khaw, Abraham imkhui tongpa rhoek khuikah a tangka neh a lai tongpa boeih te a khuen tih Pathen loh a thui bangla amah khohnin van ah amih kah yahhmui saa te a rhet pah.
23Chính ngày đó, Aùp-ra-ham bắt ỗch-ma-ên, con trai mình, và hết thảy các người nam trong nhà, hoặc sanh tại đó, hoặc đem tiền ra mua về, mà làm phép cắt bì cho, y như lời Đức Chúa Trời đã phán dặn.
24Te dongah Abraham loh a yahhmui saa a rhet vaengah kum sawmko neh kum ko lo ca coeng.
24Vả, khi Aùp-ra-ham chịu phép cắt bì, thì đã được chín mươi chín tuổi;
25A capa Ishmael khaw kum hlai thum a lo ca vaengah a yahhmui saa te a rhet pah.
25còn ỗch-ma-ên, con người, khi chịu phép cắt bì, thì được mười ba tuổi.
26Tekah khohnin van ah Abraham neh a capa Ishmael te yahhmui rhet pah la om.
26Cũng trong một ngày đó, Aùp-ra-ham và ỗch-ma-ên chịu phép cắt bì,
27Te phoeiah a im kah hlang boeih, im kah cahlah neh kholong ca tangka neh a lai te khaw amah neh yahhmui a rhet uh.
27và mọi người nam trong nhà, hoặc sanh tại đó, hoặc đem tiền ra mua nơi người ngoại bang, đồng chịu phép cắt bì với người.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.