Ezekiel
Chapter 16
Baibal Olcim (Matupi Chin)
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers

Ezekiel 16

Baibal Olcim (Matupi Chin)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1BOEIPA ol te kai taengah koep ha pawk tih,
1Lại có lời Đức Giê-hô-va phán cùng ta như vầy:
2“Hlang capa amah kah tueilaehkoi te Jerusalem ming sak.
2Hỡi con người, hãy làm cho Giê-ru-sa-lem biết những sự gớm ghiếc của nó.
3Te vaengah ka Boeipa Yahovah loh he ni a thui. Jerusalem te, 'Namah tuikong neh na pacaboeina tah Kanaan kho kah tih, na pa te Amori, na nu khaw Khitti nu ni.
3Ngươi khá nói rằng: Chúa Giê-hô-va phán cùng Giê-ru-sa-lem như vầy: Bởi cội rễ và sự sanh ra của mầy ở đất Ca-na-an; cha mầy là người A-mô-rít, mẹ là người Hê-tít.
4Na pacaboeina loh na om khohnin ah na yenrhui at pawt tih tui neh pakpak n'silh moenih, n'yut khaw n'yuut pawt tih n'yol khaw n'yol moenih.
4Về sự mầy sanh ra, trong ngày mầy mới đẻ, rún mầy chưa cắt, chưa rửa mầy trong nước cho được thanh sạch, chưa xát bằng muối, chưa bọc bằng khăn.
5He khuiah pakhat khaw nang taengah saii ham vaengah a mik loh nang te n'rhen moenih. Nang soah thinphatnah ham lakah na om nah khohnin ah na hinglu tueilaehkap ham ni lohma li ah m'voeih.
5Chẳng có mắt nào thương mầy, đặng làm một việc trong những việc đó cho mầy vì lòng thương xót mầy; song mầy đã bị quăng giữa đồng trống trong ngày mầy sanh ra, vì người ta gớm mầy.
6Na kaepah ka pah vaengah nang te namah thii neh na nok uh te ka hmuh. Te vaengah nang taengah, “Na thii dongah hing ne,” ka ti nah tih, “Nang te namah thii neh hing,” ka ti nah.
6Khi ta qua gần mầy, thấy mầy tắm trong máu mình, ta phán cùng mầy rằng: Dầu ở giữa máu mầy, hãy sống! Thật, ta phán cùng mầy rằng: Dầu ở giữa máu mầy, hãy sống!
7Lohma thingdawn a pul bangla nang kang khueh. Te dongah na ping tih na pantai vaengah cangen lakah cangen la na poeh. Na rhangsuk khaw hmabuet tih na sam khaw sai. Tedae nang te pumtling neh yangyal la na om.
7Ta đã làm cho mầy thêm nhiều ra, như vật đồng ruộng mọc lên. Mầy đã nẩy nở, lớn lên, và trở nên đẹp đẽ lắm. Vú mầy dậy lên, tóc mầy dài ra, nhưng hãi còn ở lỗ và trần truồng.
8Na taengah ka pah vaengah namah neh na tue hlo ngaih tue la kak kam hmuh. Te dongah ka hnihmoi te nang kang khuk thil tih na yah kan dah. Nang taengah ka toemngam tih nang te paipi khuila kan thoeng puei dongah ni kamah taengah na om. He tah ka Boeipa Yahovah kah olphong ni.
8Khi ta qua gần mầy, và nhìn mầy, nầy, tuổi mầy nầy, mầy đã đến tuổi yêu mến. Ta lấy áo ngoài ta trùm trên mầy, che sự trần truồng mầy. Phải, ta thề cùng mầy và kết giao ước với mầy, thì mầy trở nên của ta, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
9Namah tui neh kan hluk tih na pum dongkah na thii te kan silh. Te phoeiah nang te situi neh kan yuh.
9Ta rửa mầy trong nước, làm cho sạch máu vấy mình mầy, và xức dầu cho.
10Nang te rhaekva kam bai sak tih saham pho ni nang kang khom sak. Hnitang neh nang kan yen tih puhimbai neh nang kan khuk.
10Ta mặc áo thêu cho mầy, cho mầy mang giày sắc lam, thắt lưng mầy bằng vải gai mịn, đắp cho mầy bằng hàng lụa.
11Nang te cangen kang oi sak tih na kut dongkah khungpak neh na rhawn kah oi khaw kam paek.
11Ta lấy đồ trang sức giồi cho mầy, xỏ vòng vào tay, mang kiềng vào cổ,
12Na hnarhong dongkah hnaii neh na hna dongkah hnathawn khaw na lu dongkah boeimang rhuisam khaw kam paek.
12tra khoen nơi mũi, đeo hoa vào tai, và đội mão đẹp trên đầu mầy.
13Sui neh ngun na oi tih na hnicu khaw hnitang khuikah hnitang tah, puhimbai neh rhaekva ni. Vaidam neh khoitui neh situi te na caak na caak tih bahoeng, bahoeng na sawtthen dongah mangpa taengah na thaihtak.
13Như vậy, mầy được trang sức bằng vàng bằng bạc; áo xống của mầy bằng vải gai mịn, bằng hàng lụa, bằng đồ thêu; mầy nuôi mình bằng bột mì lọc, bằng mật ong và bằng dầu. Mầy đã trở nên cực đẹp, và thạnh vượng đến nỗi được ngôi hoàng hậu.
14Ka rhuepomnah he nang taengah a rhuemtuet la kam paek lamloh na sakthen neh na ming tah namtom taengah tueng coeng. He tah ka Boeipa Yahovah kah olphong ni.
14Danh tiếng mầy lừng lẫy trong các nước bởi sắc đẹp mầy; vì sự đẹp là trọn vẹn bởi oai nghi của ta mà ta đã đặt trên mầy, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
15Tedae na sakthen dongah na pangtung tih na ming dongah na cukhalh. Aka cet boeih soah na cukhalhnah na hawk tih anih ham khoeng a om pah.
15Nhưng mầy cậy sắc đẹp mình; cậy danh tiếng mình mà buông sự dâm dục, hành dâm cùng mọi kẻ trải qua, phó mình mầy cho nó.
16Na himbai te na loh tih hmuensang te namah ham savawk la na saii. Amih sokah na cukhalh te phoe noek pawt tih om noek bal mahpawh.
16Mầy dùng áo xống mình, và làm các nơi cao cho mình, trang sức nhiều mùi, và làm sự dâm loạn tại đó; điều ấy sẽ chẳng đến, cũng sẽ chẳng có bao giờ.
17Namah taengah kam paek ka sui neh ka ngun te namah kah boeimang hnopai bangla na loh. Te phoeiah tongpa muei te namah ham na saii tih amih taengah na cukhalh.
17Mầy cũng đã lấy những đồ trang sức trọng thể, làm bằng vàng và bạc mà ta đã ban cho mầy; mầy dùng làm hình người nam, rồi hành dâm với nó.
18Himbai khaw namah kah rhaekva te na loh tih amih na khuk. Ka situi neh ka bo-ul te amih mikhmuh ah a tawn khaw na tawn mai.
18Mầy lấy áo xống thêu của mình mà đắp cho chúng nó, lấy dầu và hương của ta bày ra trước mặt chúng nó.
19Ka buh khaw namah ham kam paek tih vaidam neh situi neh khoitui te nang kan cah. Tedae amih mikhmuh ah na tawn pah tih hmuehmuei botui bangla om sumsoek. He tah ka Boeipa Yahovah kah olphong ni.
19Bánh mà ta đã ban cho mầy, bột mì lọc, dầu, và mật ong mà ta cho mầy ăn, thì mầy đem mà bày ra hết trước mặt chúng nó, để làm mùi thơm tho. Thật, có sự ấy, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
20Kai ham nan sak na canu na capa te na khuen tih caak la amih taengah na ngawn. Na cukhalhnah lamloh na cukhalhnah te yol a?
20Mầy đã bắt những con trai con gái mà mầy đã sanh ra cho ta, đem dâng cho chúng nó đặng nuốt đi. Những sự dâm ô đó há phải là nhỏ mọn sao?
21Ka ca rhoek te na ngawn tih amih taengah duek paan la amih te na paek.
21Mầy đã giết con cái ta, và đã đưa qua trên lửa mà nộp cho chúng nó.
22Namah kah tueilaehkoi cungkuem neh na cukhalhnah dongah na camoe tue vaengah pumtling neh yangyal la na om tih na thii dongah aka nok uh na om te na poek khaw na poek pawh.
22Giữa mọi sự gớm ghiếc và sự tà dâm mầy, mầy không nhớ lúc còn thơ trẻ, khi mầy hãi còn ở lỗ, truồng trần hết cả, tắm trong máu mình.
23Na boethae cungkuem hnukah ana om ngawn, anunae anunae nang aih te. He tah ka Boeipa Yahovah kah olphong ni.
23Chúa Giê-hô-va phán: Khốn nạn, khốn nạn cho mầy! sau khi mầy làm mọi sự dự ấy,
24Namah ham sawn na daep tih toltung takuem ah thaehhing na dawn.
24lại xây vòng khung cho mình, dựng nơi cao cho mình trên mọi đường phố.
25Longpuei longlu takuem ah na thaehhing na dawn, na sakthen na tuei tih aka cet boeih taengah na kho na kaa. Te vaengah na cukhlahnah lamloh na cukhalhnah te na kum.
25Nơi lối vào các đường phố, mầy xây nơi cao mình, và đã làm cho sự đẹp đẽ mầy nên gớm ghiếc, mầy đã nộp mình cho mọi người đi qua, và thêm nhiều sự tà dâm mầy.
26Na imben Egypt ca rhoek taengah na cukhalh neh pumsa ah na boeilen. Kai veet ham ni na cukhalhnah te na ping sak.
26Mầy đã hành dâm với những người Ê-díp-tô, là người lân cận mầy có thân thể mạnh mẽ, mầy đã thêm nhiều sự tà dâm đặng chọc giận ta.
27Te dongah nang taengla ka kut ka thueng coeng he. Na khoboe khonuen rhamtat dongah ni na khotlueh te kam bim tih na hmaithae neh na lunguet hinglu, Philisti nu taengla nang kam voeih.
27Vậy, ta đã giang tay ta trên mầy; bớt phần đã chỉ định cho mầy, và phó mầy cho ý muốn của kẻ ghét mầy, tức các con gái Phi-li-tin, chúng nó đã mắc cỡ về sự hành dâm của mầy.
28Na cungnah a om pawt dongah Assyria ca rhoek taengah na cukhalh bal. Tedae amih taengah na cukhalh pataeng na hah bal moenih.
28Mầy cũng đã hành dâm cùng những người A-si-ri, vì mầy không no chán. Sau khi đã phạm tội tà dâm với chúng nó, mầy còn chưa no chán.
29Kanaan khohmuen kah Khalden taeng duela na cukhalhnah te na ping sak dae te nen pataeng na hah moenih.
29Vả, mầy đã thêm nhiều sự dâm dục với đất Ca-na-an cho đến Canh-đê, thế mà mầy cũng chưa no chán!
30Na ko tah tahah tangkik coeng. He tah Boeipa Yahovah kah olphong ni. Rhaidaeng la pumyoi nu kah khoboe he boeih na saii.
30Chúa Giê-hô-va phán: Oâi! lòng mầy luốt lát là dường nào, mầy phạm mọi việc đó, là việc của đàn bà tà dâm không biết xấu.
31Longpuei tom kah longlu ah na sawn na daep. Na thaehhing te toltung takuem ah na dawn na dawn tih a paang aka soehsal ham pumyoi bangla na om rhoe na om moenih a?
31Khi mầy xây vòng khung mình nơi lối vào mỗi đường, dựng nơi cao trên mỗi đường phố, mầy không giống như đứa điếm đĩ, bởi mầy khinh tiền công;
32Yuu loh samphaih tih a va yueng kholong te a doe.
32mầy là đàn bà ngoại tình, tiếp người lạ thay vì chồng mình.
33Pumyoi takuem taengah kutdoe a paek uh vaengah nang tah na kutdoe te nang aka ngaih sarhui taengah na paek. Na cukhalhnah dongah na kaepvai lamkah te namah taengla pawk ham kapbaih na paek.
33Hễ là đứa điếm đĩ thì được tiền công; nhưng mầy thì dâng lễ vật cho hết thảy tình nhân mầy; mầy đã hối lộ cho chúng, để chúng đến tư bề mà hành dâm với mầy.
34Te dongah nang kah cukhalhnah dongah namah taengah huta lamloh khuplat la om coeng. Nang hnukah aka cukhalh om pawh. Nang loh a paang na paek tih namah te a paang m'paek pawt dongah khuplat la na om coeng.
34Mầy đã làm trái với đàn bà khác trong sự tà dâm mầy, vì người ta không tìm mầy; và mầy trả tiền công, còn người ta không cho mầy chi hết. Aáy là mầy trái với những kẻ khác!
35Te dongah pumyoi aw BOEIPA ol he hnatun lah.
35Vậy nên, hỡi kẻ điếm đĩ, hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va.
36Ka Boeipa Yahovah loh he ni a thui. Na rhohum khaw na lun tih na ngaih taengah na cukhalhnah neh na yah na phen. Nang kah tueilaehkoi mueirhol cungkuem neh na ca thii te amih taengah na paek.
36Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Vì cớ mầy đã đổ ra sự ô uế, tỏ ra sự trần truồng bởi sự hành dâm với tình nhân mầy; và vì cớ mọi thần tượng gớm ghiếc của mầy, cũng vì cớ máu con cái mầy đã dâng cho chúng nó,
37Te dongah na hlang ngaih boeih te ka coi coeng ne. Amih taengah na lungtui tih na lungnah boeih te khaw, na lunguet boeih te khaw a kaepvai lamloh amih te nang taengah kang kuk. Amih taengah na yah kam poelyoe vetih na yah te boeih a hmuh uh ni.
37cho nên, nầy, ta sẽ nhóm hết thảy tình nhân mầy, tức những kẻ mầy ưa thích, mọi kẻ mầy yêu, mọi kẻ mầy ghét; ta sẽ nhóm chúng nó từ mọi bề đến nghịch cùng mầy; ta sẽ lột truồng mầy cho chúng nó, chúng nó sẽ thấy hết.
38Samphaih kah laitloeknah neh thii aka long sak nang te lai kan tloek ni. Te vaengah kosi neh thatlainah thii te nang soah kang khuen ni.
38Ta sẽ đoán phạt mầy như đoán phạt đàn bà bội chồng và làm đổ máu; ta sẽ lấy máu của sự giận dữ và ghen tương mà đổ trên mầy.
39Nang te amih kut ah kan paek vaengah tah na sawn han koengloeng vetih na thaehhing ham voeih ni. Nang te na himbai ham pit tih na boeimang hnopai han loh vaengah nang te pumtling neh yangyal la ng'khueh uh ni.
39Ta cũng sẽ phó mầy vào tay chúng nó: chúng nó sẽ phá vòng khung và đổ các nơi cao của mầy; lột áo xống mầy, cất lấy đồ trang sức đẹp đẽ mầy, để mầy ở lỗ và truồng trần.
40Nang te hlangping neh m'paan thil vetih nang te lungto neh n'dae phoeiah a cunghang neh nang te m'poel uh ni.
40Chúng nó sẽ khiến một lũ người lên nghịch cùng mầy, ném đá mầy và đâm mầy bằng gươm.
41Na im te hmai neh a hoeh uh vetih nang sokah tholhphu te huta a yet kah mikhmuh ah n'saii uh ni. Te vaengah ni pumyoi lamloh nang kam paa sak vetih a paang khaw koep na paek pawt eh.
41Chúng nó sẽ lấy lửa đốt nhà mầy, đoán xét mầy trước mắt nhiều đàn bà; ta sẽ làm cho mầy hết hành dâm và mầy cũng không cho tiền công nữa.
42Nang soah ka kosi ka hong daengah ni nang taengkah ka thatlainah a nong eh. Te vaengah ka mong vetih hue ka sa voel mahpawh.
42Vậy thì cơn giận ta sẽ dứt, sự ghen tương ta lìa khỏi mầy, và ta yên lặng, không giận nữa.
43Na camoe tue te na poek la na poek pawt tih he boeih neh kai taengah na tlai. Te dongah kai khaw na khosing te na lu soah kam paek ni. He tah ka Boeipa Yahovah kah olphong ni. Te dongah nang kah tueilaehkoi boeih te khonuen rhamtat la saii rhoe saii boeh.
43Vì mầy không nhớ lúc mình còn thơ bé, và đã nóng giận nghịch cùng ta trong mọi việc; cho nên, nầy, ta cũng sẽ làm cho đường lối mầy lại đổ trên đầu mầy, Chúa Giê-hô-va phán vậy; mầy sẽ không thêm sự hành dâm nầy vào mọi sự gớm ghiếc mầy nữa.
44Nang kawng neh aka thuidoek boeih long ke a canu aka voek manu bangla a thuidoek ni.
44Phàm người hay dùng tục ngữ, sẽ lấy câu tục ngữ nầy mà nói về mầy: Mẹ thế nào, con gái thế ấy!
45Nang tah a va neh a ca rhoek aka tuei na manu canu ni. Nang tah a hlang neh a ca aka tuei na ngannu kah tanu ni. Na nu tah Khitti tih na pa te Amori ni.
45Mầy là con gái của mẹ mầy, mẹ mầy đã chán bỏ chồng con mình; mầy là em các chị mầy, các chị mầy đã chán bỏ chồng con mình; mẹ mầy là người Hê-tít, và cha mầy là người A-mô-rít.
46Na tanu suiham Samaria khaw a canu neh nang kah banvoei ah om lah ko. Na tanu namah lakah a noe tah na bantang kah Sodom ah a canu neh om lah ko.
46Chị mầy là Sa-ma-ri cùng các con gái nó, ở bên tả mầy; em mầy là Sô-đôm cùng các con gái nó, ở bên hữu mầy.
47Amih kah longpuei ah na pongpa bueng pawt tih amih taengkah tueilaehkoi te mikpalap ah valh na saii khaw na saii. Tedae na longpuei boeih dongah khaw amih lakah na poeih uh coeng.
47Còn mầy không bước đi trong đường chúng nó, và không phạm những sự gớm ghiếc giống nhau; mầy cho điều đó là nhỏ mọn, nhưng mầy đã tự làm ra xấu hơn chúng nó trong mọi đường lối mầy nữa.
48Kai tah hingnah tite, ka Boeipa Yahovah kah olphong ni. Namah neh na canu kah na saii bang te na tanu Sodom neh a canu loh a saii noek moenih.
48Chúa Giê-hô-va phán: Thật như ta hằng sống, Sô-đôm, em mầy, chính mình nó và con gái nó chưa từng làm sự mầy và con gái mầy đã làm.
49Na tanu Sodom kathaesainah la he ni aka om he. Buh coihdanah dongkah hoemdamnah he amah neh a canu taengah a mong la ommongnah a om pah. Tedae mangdaeng neh khodaeng kut tah a moem moenih.
49Nầy, đây là sự gian ác của em gái mầy là Sô-đôm và các con gái nó: ở kiêu ngạo, ăn bánh no nê, và ở nể cách sung sướng; nó lại không bổ sức cho tay kẻ nghèo nàn và thiếu thốn.
50Sang uh cakhaw ka mikhmuh ah tueilaehkoi ni a saii uh. Te dongah na hmuh bangla amih te ka saii.
50Chúng nó đã trở nên cao ngạo, phạm những sự gớm ghiếc trước mặt ta; nên ta đã trừ chúng nó đi, vừa khi ta thấy mọi điều đó.
51Samaria he nang kah tholhnah a loengboeng pataeng a tholh moenih. Te dongah nang kah tueilaehkoi he amih lakah yet. Tedae namah kah tueilaehkoi cungkuem na saii na saii tih na tanu kah na tanu taengah khaw na tang van.
51Sa-ma-ri chưa phạm đến phân nửa tội mà mầy đã phạm; mầy đã thêm nhiều sự gớm ghiếc hơn nó, và bởi những sự gớm ghiếc mầy đã phạm, thì chị em mầy còn được kể là công bình.
52Namah khaw na mingthae te phuei nawn. Na tanu ham na thangthui cakhaw na tholhnah neh amih lakah n'tuei coeng tih nang lakah tang uh. Te dongah namah khaw na tanu na tang sak dongah yak lamtah na mingthae phuei nawn.
52Mầy xét đoán chị em mầy, ấy là mầy chuốc lấy sự xấu hổ mình. Vì cớ tội lỗi mầy còn là đáng gớm hơn chúng nó, thì chúng nó là công bình hơn mầy. Vậy, mầy cũng hãy mang nhơ chịu hổ, vì mầy đã làm cho chị em mầy được kể là công bình!
53Tedae amih khuikah thongtla, Sodom thongtla neh a tanu thongtla, Samaria kah thongtla thongtla neh a tanu thongtla, amih lakli kah nangmih thongtla, thongtla te khaw koep ka mael puei.
53Ta sẽ đem những phu tù của Sô-đôm và các con gái nó trở về, đem những phu tù của Sa-ma-ri và các con gái nó trở về, cũng đem các phu tù của mầy ở giữa chúng nó trở về nữa;
54Te dongah amih na hloep vaengkah na saii boeih te na mingthae phuei lamtah na hmaithae saeh.
54để mầy mang nhuốc mình, và chịu hổ về mọi điều mầy đã làm, vì đã làm cho chúng nó được yên ủi.
55Na tanu Sodom khaw a canu neh amah hmuen la mael uh vetih Samaria neh a tanu rhoek khaw a muel la mael uh ni. Te vaengah nang neh na tanu rhoek khaw namah hmuen la na mael ni.
55Chị em mầy, Sô-đôm và con gái nó, sẽ trở lại như khi xưa. Sa-ma-ri cùng con gái nó cũng trở lại như khi xưa. Mầy cùng con gái mầy cũng sẽ trở lại như khi xưa.
56Na hoemdamnah khohnin vaengkah na ka lamkah olthang bangla na tanu Sodom khaw om mahpawt nim?
56Trong ngày mầy kiêu ngạo, miệng mầy chẳng nhắc đến tên Sô-đôm, em mầy;
57Na boethae a hliphen tom vaengah Aram nu neh a kaepvai boeih kah Philisti nu rhoek kokhahnah tue vaengkah bangla a kaepvai ah nang n'hnaep uh.
57lúc đó sự dự của mầy chưa lộ ra, mầy còn chưa bị những lời nhiếc móc của con gái Sy-ri và hết thảy các xứ lân cận, của các con gái Phi-li-tin nó khinh dể mầy tư bề.
58Nang kah khonuen rhamtat neh namah kah tueilaehkoi te namah loh phuei. He tah BOEIPA kah olphong ni.
58Mầy đã mang lấy sự hành dâm và sự gớm ghiếc của mầy, Đức Giê-hô-va phán vậy.
59Ka Boeipa Yahovah loh he ni a thui. Paipi phae ham olcaeng na sawtsit dongah na saii bangla nang te kan saii rhoe kan saii ni.
59Vì Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Mầy đã khinh dể lời thề mà dứt bỏ giao ước ta, ta sẽ đối đãi mầy như mầy đã làm.
60Tedae na camoe tue vaengkah nang taengkah ka paipi te ka poek vetih nang ham kumhal kah paipi ka thoh ni.
60Dầu vậy, ta sẽ nhớ lại giao ước ta đã lập với mầy đang ngày mầy thơ bé, ta vì mầy sẽ lập một giao ước đời đời.
61Te vaengah na longpuei te na poek vetih na hmaithae bitni. Na tanu namah lakah aka ham te na doe vaengah nang lakah tanoe ni tanu la nang taengah kam paek sitoe cakhaw na paipi dongkah mahpawh.
61Khi mầy sẽ nhận lấy những chị em mầy, mầy sẽ nhớ lại đường lối mình mà hổ thẹn; bấy giờ ta sẽ trao chúng nó cho mầy làm con gái, nhưng không cứ theo giao ước mầy.
62Ka paipi te nang taengah ka thoh vaengah BOEIPA kamah te nan ming bitni.
62Ta sẽ lập giao ước ta với mầy, mầy sẽ biết ta là Đức Giê-hô-va;
63Te daengah ni na poek vaengah na yak vetih na ka a ah la koep aom pawt eh. Na mingthae hman ah khaw na saii boeih dongah nang ham kan dawth coeng. He tah ka Boeipa Yahovah kah olphong ni, 'ti nah,” a ti.
63hầu cho mầy được nhớ lại và hổ ngươi; vì cớ sự xấu hổ mầy, mầy chẳng còn mở miệng nữa, khi ta đã tha thứ mọi điều mầy đã làm, Chúa Giê-hô-va phán vậy.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.