E-xơ-ra 6
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Bible Mutal (Kosraean)
1Vua Đa-ri-út bèn truyền tra khảo trong tàng thơ viện là nơi chứa các bửu vật tại Ba-by-lôn.
1Ouinge Tokosra Fulat Darius el sapkin in sukok in ma simla ke sramsram matu su karinginyuk in acn Babylon.
2Người ta tìm được trong đồn ở Eùc-ba-tan tại tỉnh Mê-đi, một cuốn giấy trên đó có di tích như vầy:
2Tusruk, koneyukyak sie limlim in ma simusla in siti Ecbatana in acn Media, ma fahk ouinge:
3Năm thứ nhất đời Si-ru, vua Si-ru ra chiếu chỉ về đền của Đức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem rằng: Khá xây cất lại đền của Đức Chúa Trời, đặng làm nơi dâng những của lễ; các nền nó phải lập cho vững bền. Đền thờ sẽ sáu mươi thước bề cao, và sáu mươi thước bề dài;
3“In yac se meet ke Tokosra Cyrus el mutawauk in Tokosra Fulat, el sapkin tuh Tempul Jerusalem in sifil musaiyuk tuh in sie acn mwet uh ku in sang mwe sang lalos ac kisakin mwe kisa lalos we. Tempul sac in fit eungoul fulata ac fit eungoul sralupa.
4nó sẽ có ba hàng đá nguyên khối và một hàng đòn tay gỗ mới; còn tiền sở phí thì phải cấp phát từ trong nhà vua.
4Musaiyen sinka uh in ouinge: fwilin sak se in oan fin fwilin eot tolu nukewa. Molin ma nukewa ac fah akfalyeyuk ke nien mani lun tokosra.
5Lại, các khí dụng bằng vàng và bạc của nhà Đức Chúa Trời, mà Nê-bu-cát-nết-sa đã lấy trong đền thờ tại Giê-ru-sa-lem và đem qua Ba-by-lôn, thì phải trả lại, và đem về trong đền thờ tại Giê-ru-sa-lem, khí dụng nầy trong chỗ nấy; ngươi phải để nó tại chỗ cũ trong nhà của Đức Chúa Trời.
5Oayapa ahlu gold ac silver nukewa ma Tokosra Nebuchadnezzar el tuh use nu Babylon liki Tempul Jerusalem ac folokinyukla nu yen fal in oan we in Tempul Jerusalem.”
6Vậy bây giờ, hỡi Tát-tê-nai, tổng đốc của xứ phía bên kia sông, Sê-ta-Bô-xê-nai, và các đồng liêu người ở A-phạt-sác bên kia sông, hãy dan ra;
6Na Tokosra Fulat Darius el supwala topuk lal ouinge: “Nu sum, Tattenai, governor lun acn Roto‐in‐Euphrates, ac Shethar Bozenai ac mwet pwapa wiowos in acn Roto‐in‐Euphrates. “Kowos tuyak liki Tempul sacn
7khá để cho quan cai của người Giu-đa và những người trưởng lão của chúng xây cất lại đền thờ của Đức Chúa Trời tại nơi cũ nó.
7ac nimet lusrong orekma kac an. Fuhlela governor lun Judah ac mwet kol lun mwet Jew in sifil musai Tempul lun God in acn na ma oan we meet ah.
8Nầy ta ra lịnh, truyền các ngươi phải làm gì đối với các trưởng lão dân Giu-đa, đặng giúp việc cất lại cái đền của Đức Chúa Trời: Hãy lấy thuế khóa thâu ở bên kia sông, vội cấp phát các tiền chi phí cho những người đó, để công việc chẳng bị dứt chừng.
8Inge, nga sapkin nu suwos tuh kowos in kasrelos sifil musaela. Molin ma ac orekmakinyuk an in sa na molla, ac in tuku ke mani lun tokosra, su ac itukla ke tax lun Roto‐in‐Euphrates, tuh orekma sacn in tia lusrongyukla.
9Phàm vật chi cần kíp, hoặc bò tơ đực, chiên đực hay là chiên con, để dùng làm của lễ thiêu dâng cho Đức Chúa trên trời; hoặc lúa mì, muối, rượu, hay là dầu, theo lời của những thầy tế lễ ở tại Giê-ru-sa-lem, khá giao cho họ mỗi ngày, chớ thiếu,
9Len nu len kowos in aklohya in sang nu sin mwet tol in Jerusalem kutena ma elos fahk mu elos enenu: oana cow mukul fusr, ku sheep, ku sheep fusr mwe orek kisa firir nu sin God lun Kusrao, ku flao, sohl, wain ku oil in olive.
10hầu cho họ dâng những của lễ có mùi thơm cho Đức Chúa trên trời, và cầu nguyện cho sanh mạng của vua và của các vương tử.
10Ma inge in orek tuh elos in ku in sang mwe kisa ma fal nu sin God lun Kusrao, ac elos in pre tuh Elan akinsewowoyeyu oayapa wen nutik.
11Ta cũng truyền lịnh rằng: Nếu ai cải chiếu chỉ nầy, thì khá rút một cây đòn tay trong nhà kẻ ấy, rồi treo nó tại đó. và vì cớ tội ấy, làm cho nhà nó thành ra một chỗ đổ rác.
11Nga tafwela pac sap soko inge tuh kutena mwet fin seakos ma nga sapkin, na in fifyak soko sak maspang lulap liki lohm sel, ac tetela sie muta, ac sang fakisya sasla manol. Na lohm sel fah orek oana sie yol in kutkut.
12Nguyện Đức Chúa Trời, là Đấng đã khiến danh Ngài ngự trong đền thờ ấy, hủy diệt vua nào, dân tộc nào dám giơ tay ra cải chiếu này đặng phá hủy đền thờ của Đức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem. Ta là Đa-ri-út ban chiếu chỉ nầy; khá làm theo nó cách cần mẫn!
12Lela God su sulela tuh Jerusalem in acn se mwet uh in alu nu sel we uh, Elan sisla kutena tokosra ku mutanfahl su sikul ma sap se inge ac srike in kunausla Tempul sac. Nga, Darius, pa sapkin in ouinge. Ma sap luk fah arulana akosyuk.”
13Tát-tê-nai, quan tổng đốc của xứ phía bên nầy sông, Sê-ta-Bô-xê-nai và các đồng liêu họ, bèn cần mẫn tuân theo chiếu chỉ mà vua Đa-ri-út đã sai đến.
13Na Governor Tattenai, Shethar Bozenai, ac mwet fulat wialos elos oru ma nukewa oana tokosra fulat el sapkin.
14Aáy vậy, các trưởng lão của dân Giu-đa bắt tay cất lại đền thờ, công việc được may mắn, y lời tiên tri của tiên tri A-ghê, và của Xa-cha-ri, con trai của Y-đô. Vậy, chúng làm xong công việc cất đền thờ, tùy theo mạng lịnh của Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, và theo chiếu chỉ của Si-ru, Đa-ri-út, và Aït-ta-xét-xe, vua nước Phe-rơ-sơ.
14Mwet kol lun mwet Jew elos oru tuh orekma in musa ke Tempul in fahla arulana wo, ac mwet palu Haggai ac Zechariah eltal akkeyalos. Elos aksafyela Tempul fal nu ke ma God lun Israel El sapkin, ac oayapa ma sap sin tokosra fulat tolu lun Persia: Cyrus, Darius, ac Artaxerxes.
15Ngày thứ ba tháng A-đa, nhằm năm thứ sáu đời vua Đa-ri-út, cái đền nầy được xây cất cho xong.
15Elos aksafyela Tempul ke len se aktolu in malem Adar, ke yac se akonkosr wacl Tokosra Fulat Darius.
16Dân Y-sơ-ra-ên, những thầy tế lễ, người Lê-vi, và những người khác đã bị bắt làm phu tù được về, đều giữ lễ khánh thành đền thờ của Đức Chúa Trời cách vui mừng.
16Na mwet tol, mwet Levi, ac mwet Israel nukewa su folok liki sruoh, elos kisaela Tempul ke engan na lulap.
17Về lễ khánh thành đền thờ nầy, chúng dâng một trăm con bò đực, hai trăm con chiên đực, bốn trăm con chiên con, và tùy theo số các chi phái Y-sơ-ra-ên, chúng dâng mười hai con dê đực làm của lễ chuộc tội cho cả dân Y-sơ-ra-ên.
17Elos kisakin cow mukul siofok, sheep luofoko, ac sheep fusr angfoko, na elos sang nani singoul luo tuh in mwe kisa ke ma koluk, kais soko nu ke sruf lun Israel.
18Chúng lập lên những thầy tế lễ và các người Lê-vi tùy theo ban thứ của họ, đặng phục sự Đức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem, y như đã chép trong sách của Môi-se.
18Elos oayapa oakiya orekma kunen mwet tol ac mwet Levi nu ke Tempul in Jerusalem, fal nu ke ma simusla in book lal Moses.
19Đoạn, ngày mười bốn tháng giêng, các người đã bị bắt làm phu tù được về, giữ lễ Vượt qua.
19Ke len se aksingoul akosr in malem se meet in yac tok ah, mwet su foloko liki sruoh elos akfulatye Kufwen Alukela.
20Vì những thầy tế lễ và người Lê-vi, cả thảy đã dọn mình cho thanh sạch, không trừ ai; rồi chúng vì hết thảy người đã bị bắt làm phu tù được về, vì những thầy tế lễ, là anh em mình, và vì chính mình, mà giết con sinh dùng về lễ Vượt qua.
20Mwet tol ac mwet Levi nukewa elos aknasnasyalos sifacna tuh elos in nasnas fal nu ke oakwuk lun alu lalos. Mwet Levi elos uniya kosro tuh in mwe kisa ke Kufwen Alukela ke mwet nukewa su foloko liki sruoh, ac ke mwet tol, ac kaclos sifacna.
21Những người Y-sơ-ra-ên đã bị bắt làm phu tù được về, bèn ăn lễ Vượt qua, luôn với những người đã tự chia rẽ ra sự ô uế của các dân tộc trong xứ, đến theo dân Y-sơ-ra-ên, đặng tìm kiếm Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
21Mwet Israel nukewa su foloko liki sruoh elos mongo ke ma kisakinyukla. Oayapa mwet nukewa su sisla moul pegan lun mwet saya su muta in facl sac ac forla in wi pac alu nu sin LEUM GOD lun Israel, elos wi pac mongo kac.
22Trong bảy ngày chúng giữ lễ bánh không men cách vui vẻ; vì Đức Giê-hô-va đã làm cho lòng chúng được khoái lạc, và có cảm động lòng vua A-si-ri đoái xem chúng, đặng giúp đỡ trong cuộc xây cất đền của Đức Chúa Trời, tức là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên
22Ke len itkosr, elos engan ac akfulatye Kufwen Bread Tia Akpulol. Arulana yohk engan lalos ke sripen LEUM GOD El oru tuh Tokosra Fulat lun Assyria elan kulang nu selos, ac kasrelos ke orekma lalos in sifil musai Tempul lun God lun Israel.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.