Gi 20
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Meriam Mir Gospels
1Ngày thứ nhất trong tuần lễ, lúc rạng đông, trời còn mờ mờ, Ma-ri Ma-đơ-len tới mộ, thấy hòn đá lấp cửa mộ đã dời đi.
1Kekiam gerger sefen, Maria Magadalena tabakeam, bane ge, aoem, a baker dasmer, emetu adem aolam.
2Vậy, người chạy tìm Si-môn Phi-e-rơ và môn đồ khác, là người Đức Chúa Jêsus yêu, mà nói rằng: Người ta đã dời Chúa khỏi mộ, chẳng hay để Ngài tại đâu.
2E koreder emerilu, a Simona Peteruim tabarki, pako nerute memeg le Iesu nasge, a uiabi daratager, kega, Uiaba emetu Opole egaret aolam, keriba umer kak nade uiaba abi ikedi.
3Phi-e-rơ với môn đồ khác bèn bước ra, đi đến mồ.
3Peteru, pako abele nerute kaimeg osmelei, a bakeamulei aoem.
4Cả hai đều chạy, nhưng môn đồ kia chạy mau hơn Phi-e-rơ, và đến mồ trước.
4Ui koreder emerilei: nerute kaimeg Peteru esaimeda, a ao ge kekiam tabarki;
5Người cúi xuống, thấy vải bỏ dưới đất; nhưng không vào.
5E diketilu, a uali dasmer ipe; E nole bao.
6Si-môn Phi-e-rơ theo đến, vào trong mộ, thấy vải bỏ dưới đất,
6Simona Peteru ko tabarki, abi irmili, a ao ge balu; a uali lino dasmer ipe,
7và cái khăn liệm trùm đầu Đức Chúa Jêsus chẳng ở cùng một chỗ với vải, nhưng cuốn lại để riêng ra một nơi khác.
7Pako mog uali abara kerem sopem, nole netate ipe kemem uali lino, tepteb ipe nerute uteb nole atarat kak.
8Bấy giờ, môn đồ kia đã đến mộ trước, cũng bước vào, thì thấy và tin.
8Nerute kaimeg balu ko, abele le kekiam aoem tabarki, E ko dasmer, a oituli.
9Vì chưng hai người chưa hiểu lời Kinh Thánh rằng Đức Chúa Jêsus phải từ kẻ chết sống lại.
9Uiaba nole akmer kak abele mer detali, kega, Abkoreb abim iako eded akaida eudelam.
10Đoạn, hai môn đồ trở về nhà mình.
10Neisi kaimeg iako tabara uteb bakeamudariei.
11Song Ma-ri đứng bên ngoài, gần mộ, mà khóc. Người vừa khóc, vừa cúi xuống dòm trong mộ,
11Maria tekue adige ao ge ezoli: E tegreamalu a ezoli, a dasmer muige abele ao ge;
12thấy hai vị thiên sứ mặc áo trắng, một vị ngồi đằng đầu, một vị ngồi đằng chân, chỗ xác Đức Chúa Jêsus đã nằm.
12E neisi angela darasmer, zazer uali darame eder emrilei, nerute kerem ge, a nerute teter ge, abele uteb Iesu ra gem ikedilu.
13Hai thiên sứ hỏi: Hỡi đàn bà kia, sao ngươi khóc? Người thưa rằng: Vì người ta đã dời Chúa tôi đi, không biết để Ngài ở đâu.
13Uiaba abi detager, kega, Kosker, nalugem mama ezoli? E uiabim detaut, kega, Abelelam uiaba kara Opole egareda, kaka umer kak abele uteb uiaba abi ikedarare.
14Vừa nói xong, người xây lại thấy Đức Chúa Jêsus tại đó; nhưng chẳng biết ấy là Đức Chúa Jêsus.
14Emetu abele detager, E egreamalu, a Iesu dasmer tekue, E nole umer kak Iesu pedali.
15Đức Chúa Jêsus hỏi người rằng: Hỡi đàn bà kia, sao ngươi khóc? Ngươi tìm ai? Người ngỡ rằng đó là kẻ làm vườn, bèn nói rằng: Hỡi chúa, ví thật ngươi là kẻ đã đem Ngài đi, xin nói cho ta biết ngươi để Ngài đâu, thì ta sẽ đến mà lấy.
15Iesu abi detaut, kega, Kosker, nalugem ma ezoli? ma niti deraimeri? E dikiapor E gedub paret arup le, E abi detaut, kega, Kole, ese mama abi egaret, kari natager abele uteb mama abi ikedi, ueakai kaka ko abi agaretelu.
16Đức Chúa Trời phán rằng: Hỡi Ma-ri! Ma-ri bèn xây lại, lấy tiếng Hê-bơ-rơ mà thưa rằng: Ra-bu-ni (nghĩa là thầy)!
16Iesu abi detager, kega, Maria. E tegreamalu a abi detager, kega, Raboni: tonar, Ereue le.
17Đức Chúa Jêsus phán rằng: Chớ rờ đến ta; vì ta chưa lên cùng Cha! Nhưng hãy đi đến cùng anh em ta, nói rằng ta lên cùng Cha ta và Cha các ngươi, cùng Đức Chúa Trời ta và Đức Chúa Trời các ngươi.
17Iesu abi detaut, kega, Nole kari atutir kak; abelelam kaka nole karba Babim ogi: bakeamulu uiabim kara keimer giz, a uiabi daratagerare, kega, Kaka Abem pako uaba Aba ogi, kara Ade a uaba Ade.
18Ma-ri Ma-đơ-len đi rao bảo cho môn đồ rằng mình đã thấy Chúa, và Ngài đã phán cùng mình những điều đó.
18Maria Magadalena kei bakeamulu, a kaimeg giz daratagerare, kega, Kaka emetu Opole dasmer; pako tonar E emetu detager abele abim.
19Buổi chiều nội ngày đó, là ngày thứ nhất trong tuần lễ, những cửa nơi các môn đồ ở đều đang đóng lại, vì sợ dân Giu-đa, Đức Chúa Jêsus đến đứng chính giữa các môn đồ mà phán rằng: Bình an cho các ngươi!
19Ki ge abele gerger, kekiam gaire sefen, emetu demare gaire te abele uteb uiaba netate gedim, abelelam uiaba Iudaia le geum ge, Iesu tabakeamulu a eipu ekueilu, a uiabi detager, kega, Mapodan uabim.
20Nói đoạn, Ngài giơ tay và sườn mình cho môn đồ xem. Các môn đồ vừa thấy Chúa thì đầy sự mừng rỡ.
20Emetu abele detager, E abara neisi tag a abara ber uiabi natomelu. Abara kaimeg giz sererge Opole dasmer.
21Ngài lại phán cùng môn đồ rằng: Bình an cho các ngươi! Cha đã sai ta thể nào, ta cũng sai các ngươi thể ấy.
21Iesu iako uiabi detager, kega, Mapodon uabim: kaka uabi namarida mokakalam Baba kare namarida.
22Khi Ngài phán điều đó rồi, thì hà hơi trên môn đồ mà rằng: Hãy nhận lãnh Đức Thánh Linh.
22E emetu abele detager, E uiabim nerezi, a detager, kega, Lamar Zogo egaret:
23Kẻ nào mà các ngươi tha tội cho, thì tội sẽ được tha; còn kẻ nào các ngươi cầm tội lại, thì sẽ bị cầm cho kẻ đó.
23Abele gaire le la uit uaba ko emarik, abele ko uiabim emarik: abele uaba dekaer, abele ko dekaer.
24Vả, lúc Đức Chúa Jêsus đến, thì Thô-ma, tức Đi-đim, là một người trong mười hai sứ đồ, không có ở đó với các môn đồ.
24Toma, nerute tuelf lelam, nei atker Didumo, nole uiabi dog kerker Iesu tabarki.
25Các môn đồ khác nói với người rằng: Chúng ta đã thấy Chúa. Nhưng người trả lời rằng: Nếu ta không thấy dấu đinh trong bàn tay Ngài, nếu ta không đặt ngón tay vào chỗ dấu đinh, và nếu ta không đặt bàn tay nơi sườn Ngài, thì ta không tin.
25Kaimeg giz abi detager, kega, Keriba emetu Opole dasmer. E uiabim detaut, kega, Ese kaka nole dasmer sok tulik ziz abara neisi tag, a kara baur kei sok tulik ziz ge aziriklu, a kara tag abara ber ge aziriklu, kaka nole uatur kak.
26Cách tám ngày, các môn đồ lại nhóm nhau trong nhà, có Thô-ma ở với. Khi cửa đang đóng, Đức Chúa Jêsus đến, đứng chính giữa môn đồ mà phán rằng: Bình an cho các ngươi!
26Gaire gerger eit iobaru, abara kaimeg giz muige meta, a Toma uiabim kemem. Gaire te emetu demare, Iesu batimedilu, a uiabim eipu ekueilu, a detager, kega, Mapodan uabim.
27Đoạn, Ngài phán cùng Thô-ma rằng: Hãy đặt ngón tay ngươi vào đây, và xem bàn tay ta; cũng hãy giơ bàn tay ngươi ra và đặt vào sườn ta, chớ cứng lòng, song hãy tin!
27E Toma detager, kega, Mabara baur kei tekau, a dasmer kara neisi tag; a mabara tag tekau, a kara ber ge aziriklu: ma nole uatur kak, debele oituli.
28Thô-ma thưa rằng: Lạy Chúa tôi và Đức Chúa Trời tôi!
28Toma abi detaut, kega, Kara Opole, a kara Ade.
29Đức Chúa Jêsus phán: Vì ngươi đã thấy ta, nên ngươi tin. Phước cho những kẻ chẳng từng thấy mà đã tin vậy!
29Iesu abi detaut, kega, Toma ma oituli abelelam ma kari dasmer: uiaba uerkab le gaire le oituli, a nole asmer kak.
30Đức Chúa Jêsus đã làm trước mặt môn đồ Ngài nhiều phép lạ khác nữa, mà không chép trong sách nầy.
30Dordor atamelam Iesu ikelare opem abara kaimeg giz, a nole detali abele jauali ge:
31Nhưng các việc nầy đã chép, để cho các ngươi tin rằng Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ, tức là Con Đức Chúa Trời, và để khi các ngươi tin, thì nhờ danh Ngài mà được sự sống.
31Emetu abele gaire lu detali ueakai uaba dikiaporauem, kega, Iesu Keriso kar, Ade ra Uerem: ueakai uaba onatereda, uaba ko eded nagri abi neilam.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.