Đa
Chapter 3
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Bible Mutal (Kosra…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Bible Mutal (Kosraean)
1Vua Nê-bu-cát-nết-sa làm một pho tượng bằng vàng, cao sáu mươi cu-đê và ngang sáu cu-đê, để đứng trong đồng bằng Đu-ra, thuộc tỉnh Ba-by-lôn.
1Tokosra Nebuchadnezzar el sap orekla ma sruloala gold se, fit eungoul fulata ac fit eu sralap, ac el sap tulokyak in acn tupasrpasr se pangpang Dura, apkuran nu ke siti Babylon.
2Đoạn, vua Nê-bu-cát-nết-sa sai nhóm các quan trấn thủ, lãnh binh, các công tước, các quan đề hình, thủ kho, các nghị viên, quản đốc, và các quan làm đầu các tỉnh, để dự lễ khánh thành pho tượng mà vua Nê-bu-cát-nết-sa đã dựng lên.
2Na tokosra el sapkin mwet pwapa lal nukewa in fahsreni — mwet fisrak nukewa, governor nukewa, governor akluo nukewa, mwet kol lun kais sie kain in orekma, mwet liyaung mwe kasrup, mwet nununku, mwet pwapa fulat ke kais sie acn, ac mwet kol saya nukewa lun acn we. Elos in fahsreni ac wi kisaela ma sroloala se ma Tokosra Nebuchadnezzar el tulokunak ah.
3Vậy, các quan trấn thủ, lãnh binh, các công tước, các quan đề hình, thủ kho, các nghị viên, quản đốc, và hết thảy những người làm đầu các tỉnh đều nhóm lại để dự lễ khánh thành pho tượng mà vua Nê-bu-cát-nết-sa đã dựng lên; và họ đứng trước pho tượng mà vua Nê-bu-cát-nết-sa đã dựng.
3Ke mwet fulat inge nukewa fahsreni nu ke kisa sac, ac tu ye mutun ma sruloala sac,
4Bấy giờ sứ giả rao lớn tiếng lên rằng: Các dân, các nước, các thứ tiếng, đây nầy, lịnh truyền cho các ngươi.
4sie mwet in sulkakin pweng lun tokosra el fahk ke sie pusra lulap, “Kowos, mwet mutunfacl nukewa, su sramsram ke kain in kas nukewa!
5Khi nào các ngươi nghe tiếng còi, kèn, đàn cầm, đàn sắt, quyển, sáo và các thứ nhạc khí, thì khá sấp mình xuống để thờ lạy tượng vàng mà vua Nê-bu-cát-nết-sa đã dựng.
5Kowos ac fah lohng pusren mwe ukuk, ac toko pusren oboe, lyre, zither ac harp, ac oayapa kain mwe srital nukewa saya ac fah weang ma inge. Ke pacl se na mwe on inge ac kasla uh, kowos in pasrla ac alu nu ke ma sruloala gold se su Tokosra Nebuchadnezzar el tulokonak inge.
6Kẻ nào không sấp mình xuống và không thờ lạy, tức thì sẽ phải quăng vào giữa lò lửa hực.
6Kutena mwet su tia pasrla ac alu nu kac ac fah sisiyang nu in sie funyu in e firir uh.”
7Vậy nên, khi các dân nghe tiếng còi, kèn, đàn cầm, đàn sắt, quyển, và các thứ nhạc khí, thì các dân, các nước, các thứ tiếng, thảy đều sấp mình xuống, và thờ lạy pho tượng vàng mà vua Nê-bu-cát-nết-sa đã dựng.
7Ouinge ke elos lohng pusren mwe on uh kasla, mwet in mutunfacl nukewa ac kain in kas nukewa elos pasrla ac alu nu ke ma sruloala gold se ma Tokosra Nebuchadnezzar el tulokunak ah.
8Khi ấy, có mấy người Canh-đê đến gần để tố cáo những người Giu-đa.
8In pacl sac, kutu sin mwet Babylonia elos konauk pacl wo lalos in akkolukye mwet Jew ah.
9Vậy họ cất tiếng và tâu cùng vua Nê-bu-cát-nết-sa rằng: Hỡi vua, nguyền vua sống đời đời!
9Elos fahk ouinge nu sel Tokosra Nebuchadnezzar, “Lela in loes moul lun tokosra!
10Hỡi vua, chính vua đã ra lịnh, hễ người nào nghe tiếng còi, kèn, đàn cầm, đàn sắt, quyển, sáo và các thứ nhạc khí, thì phải sấp mình xuống để thờ lạy tượng vàng;
10Tokosra tuh sapkin mu pusren mwe on uh fin kasla, mwet nukewa in pasrla ac alu nu ke ma sruloala gold sac,
11và kẻ nào không sấp mình xuống để thờ lạy tượng đó, sẽ phải quăng vào giữa lò lửa hực.
11ac kutena mwet su tia pasrla ac alu nu kac ac fah sisiyang nu in sie funyu in e firir.
12Vả, ở đây có mấy người Giu-đa kia mà vua đã lập lên cai trị tỉnh Ba-by-lôn, tức là Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-Nê-gô; hỡi vua, những người ấy không kiêng nể vua một chút nào. Họ chẳng thờ các thần của vua, và chẳng lạy tượng vàng vua đã dựng.
12Oasr kutu mwet Jew ma kom sang in karingin acn ma apkuran nu Babylon — Shadrach, Meshach ac Abednego — su tia akos sap lun tokosra. Elos tiana alu nu sin god lom uh, ku pasrla nu ke ma sroloala se kom tulokunak ah.”
13Bấy giờ, vua Nê-bu-cát-nết-sa tức mình nổi giận, truyền điệu Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-Nê-gô đến, thì những người đó bị điệu đến trước mặt vua.
13Ke elos fahk ouinge, tokosra el arulana kasrkusrakak ac sap in utuku mwet tolu ah nu ye mutal.
14Vua Nê-bu-cát-nết-sa cất tiếng nói cùng họ rằng: Hỡi Sa-đơ-rắc, Mê-sác, A-bết-Nê-gô, có phải các ngươi cố ý không thờ thần ta và không lạy tượng vàng mà ta đã dựng lên chăng?
14Ac el fahk nu seltal, “Shadrach, Meshach, Abednego, ya pwaye lah komtal srangesr alu nu sin god luk uh, ac tia pasrla nu ke ma sroloala se nga tulokunak ah?
15Vậy bây giờ, khi các ngươi nghe tiếng còi, kèn, đàn cầm, đàn sắt, quyển, sáo và các thứ nhạc khí, mà các ngươi sẵn sàng sấp mình xuống đất để quì lạy pho tượng mà ta đã làm nên, thì được; nhưng nếu các ngươi không quì lạy, thì chính giờ đó các ngươi sẽ phải quăng vào giữa lò lửa hực. Rồi thần nào có thể giải cứu các ngươi khỏi tay ta?
15Komtal fin lohng pusren mwe ukuk, oboe, lyre, zither, harp, ac mwe on saya nukewa in kasla, ’tal pasrla nu ke ma sroloala sac ac alu nu kac. Komtal fin tia, na ac sisiyang komtal nu ke funyu in e firir. Ku komtal nunku mu oasr god ac ku in molikomtalla?”
16Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-Nê-gô tâu lại cùng vua rằng: Hỡi Nê-bu-cát-nết-sa, về sự nầy, không cần chi chúng tôi tâu lại cho vua.
16Na Shadrach, Meshach, ac Abednego topuk ac fahk nu sel, “O Tokosra, kut ac tia srike in fahk kutena kas in akwoye kut.
17Nầy, hỡi vua! Đức Chúa Trời mà chúng tôi hầu việc, có thể cứu chúng tôi thoát khỏi lò lửa hực, và chắc cứu chúng tôi khỏi tay vua.
17God se su kut kulansap nu se uh fin ku in molikutla liki e firir ingan, ac liki ku lom, na El ac molikutla.
18Dầu chẳng vậy, hỡi vua, xin biết rằng chúng tôi không hầu việc các thần của vua, và không thờ phượng pho tượng vàng mà vua đã dựng.
18Tusruktu El finne tia molikutla, lela in arulana kalem sin tokosra lah kut tia ku in alu su sin god lom an, ac kut ac fah tiana pasrla nu ke ma sruloala gold se ma kom tulokunak an.”
19Bấy giờ, vua Nê-bu-cát-nết-sa cả giận, biến sắc mặt nghịch cùng Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-Nê-gô; và cất tiếng truyền đốt lò lửa nóng gấp bảy lần hơn lúc bình thường đã đốt.
19Na Nebuchadnezzar el arulana rarak ke kasrkusrak, ac ngetang suilya Shadrach, Meshach ac Abednego. Na el sap mwet lal uh in tanak e uh in fol pacl itkosr yohk liki pacl nukewa.
20Vua sai mấy người mạnh bạo kia trong đạo binh mình trói Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-Nê-gô, mà quăng vào lò lửa hực.
20Ac el sap mwet ma ku oemeet sin mwet mweun lal in kapriya mwet tolu inge ac siselosyang nu in funyu in e firir sac.
21Tức thì các người ấy bị trói luôn với quần trong, áo dài, áo ngắn và các áo xống khác, rồi người ta quăng họ vào giữa lò lửa hực.
21Ouinge elos kaprelosi ke elos putena nuknuk, susu, ac ma nukewa, ac siselosyang nu in funyu sac.
22Nhân vì mạng vua truyền kíp lắm, mà lò lửa thì đốt nóng lạ thường, nên những người quăng Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-Nê-gô bị ngọn lửa cháy chết.
22Ac ke sripen tokosra el tuh sap in tayak e sac in arulana fol, oru e sac tuh esukak pac mwet ma us mwet tolu ah ac siselosyang nu ke e sac.
23Còn ba người, Sa-đơ-rắc, Mê-sác, A-bết-Nê-gô, vẫn bị trói mà rơi vào giữa lò lửa hực.
23Na Shadrach, Meshach, ac Abednego srakna kapir, ac sisiyang elos nu in fiten e sac.
24Bấy giờ, vua Nê-bu-cát-nết-sa lấy làm lạ, vội vàng đứng dậy, cất tiếng nói cùng các nghị viên rằng: Những kẻ bị ta trói mà quăng vào giữa lửa có phải là ba người không? Họ tâu cùng vua rằng: Tâu vua, phải.
24In kitin pacl ah na Nebuchadnezzar el atuyak ke lut ac fwefela lal. Ac el siyuk sin mwet pwapa lal, “Ku tia mwet tolu pa kut kapriya ac sisang nu in e sac ah?” Ac elos fahk, “Aok, pwaye.”
25Vua lại nói, Nầy, ta thấy bốn người không có bị trói, bước đi giữa lửa mà chẳng bị thương; và hình dong của người thứ tư giống như một con trai của các thần.
25Na el sifil siyuk, “Ac efu ku mwet akosr pa nga liye forfor in e se ingo? Eltal tiana kapir ac wanginna akilenya mu eltal fol — ac mwet se akakosr ingo oana luman lipufan se.”
26Đoạn, vua Nê-bu-cát-nết-sa đến gần cửa lò lửa hực, cất tiếng nói rằng: Hỡi Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-Nê-gô, là tôi tớ của Đức Chúa Trời Rất Cao, hãy ra và lại đây! Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-Nê-gô bèn từ giữa đám lửa mà ra.
26Ouinge Nebuchadnezzar el fahsryang nwe ke mutun funyu firir sac, pangyak ac fahk, “Shadrach! Meshach! Abednego! Kowos su mwet kulansapu God Fulatlana, oatume!” Na elos tukenina oatui.
27Các quan trấn thủ, lãnh binh, các người cai trị và các nghị viên của vua đều nhóm lại, thấy lửa không có quyền làm hại thân thể ba người ấy được, cũng chẳng có một sợi tóc nào trên đầu họ bị sém; áo xống họ chẳng bị si sứt chút nào, và mùi lửa cũng chẳng qua trên họ.
27Mwet nukewa: fisrak, governor, governor akluo, ac mwet leum saya nukewa lal tokosra, elos fahsreni in liye mwet tolu ah, su tiana folla ke e sac. Aunsifalos ac nuknuk lalos tiana firiryak, ac elos tia pac fokulasrla ke e sac.
28Vua Nê-bu-cát-nết-sa lại cất tiếng nói rằng: Đáng ngợi khen Đức Chúa Trời của Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-Nê-gô! Ngài đã sai thiên sứ Ngài và giải cứu các tôi tớ Ngài nhờ cậy Ngài, họ đã trái mạng vua, và liều bỏ thân thể mình, hầu để không hầu việc và không thờ phượng thần nào khác ngoài Đức Chúa Trời mình.
28Na tokosra el fahk, “Kaksakin God lal Shadrach, Meshach, ac Abednego! El supwama lipufan lal ac molela mwet su orekma nu sel ac lulalfongel inge. Elos tuh pilesrala moul lalos ac tia akos ma sap luk ke sripen elos tia lungse epasr nu sin kutena god sayen God lalos sifacna.
29Cho nên ta ban chiếu chỉ nầy: Bất kỳ dân nào, nước nào, thứ tiếng nào, hễ có người nói xấu đến Đức Chúa Trời của Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-Nê-gô, thì sẽ bị phân thây, nhà nó sẽ phải thành ra đống phân, vì không có thần nào khác có thể giải cứu được thể nầy.
29“Na inge, nga sapkin tuh mwet in kutena mutunfacl, ku kutena kain in kas, fin fahk kutena kas ma ac akkolukye God lal Shadrach, Meshach, ac Abednego, ac fah sreyuki manol ke kupasr nukewa kacl, ac lohm sel fah rakinyuki nwe ke oana sie yol in kutkut. Wangin siena god su ku in oru inkanek in molela ouinge.”
30Vua bèn thăng chức cho Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-Nê-gô trong tỉnh Ba-by-lôn.
30Ac tokosra el sifilpa kulak wal lal Shadrach, Meshach, ac Abednego in acn Babylon.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.