I Phia
Chapter 2

I Phia

Vietnamese Bible (1923 t…
vs Bible Mutal (Kosra…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Bible Mutal (Kosraean)
1Vậy anh em đã từ bỏ mọi điều độc ác, mọi điều gian giảo, mọi thứ giả trá, lòng ghen ghét và sự nói hành,
1Ke ma inge kowos in sisla liki kowos kain in ma koluk nukewa; tia sifil kikiap, ku kaskas wosounkas, ku sok, ku kas in akkolukye sie sin sie.
2thì hãy ham thích sữa thiêng liêng của đạo, như trẻ con mới đẻ vậy, hầu cho anh em nhờ đó lớn lên mà được rỗi linh hồn,
2Kowos in oana tulik tufahna isusla, malu pacl nukewa nu ke sronin titi mutal lun Ngun, tuh ke kowos nim kowos in kapak ac moulla.
3nếu anh em đã nếm biết Chúa là ngọt ngào.
3Oana ke Ma Simusla uh fahk, “Kowos sifacna konauk woiyen kulang lun Leum God.”
4Hãy đến gần Ngài, là hòn đá sống, bị người ta loại ra, song được chọn và quí trước mặt Đức Chúa Trời,
4Kowos in fahsr nu yurin Leum, eot moul su mwet uh pilesrala, a God El sulela ac aksaokye.
5và anh em cũng như đá sống, được xây nên nhà thiêng liêng, làm chức tế lễ thánh, đặng dâng của tế lễ thiêng liêng, nhờ Đức Chúa Jêsus Christ mà đẹp ý Đức Chúa Trời.
5Kowos in fahsru oana eot moul, ac lela in orekmakinyuk kowos in musaela tempul lun ngun, yen ma kowos ac fah kulansap oana mwet tol mutal in sang mwe kisa su mwe akinsewowoye God, ac akkalemyeyuk nu suwos sin ngun lal ke Jesus Christ.
6Vì trong Kinh Thánh có chép rằng: Nầy, ta đặt tại Si-ôn hòn đá góc nhà đã chọn lựa và quí báu; Ai tin đến đá ấy sẽ không bị xấu hổ.
6Tuh Ma Simusla uh fahk, “Liye, nga sulela sie eot saok, Su nga ac filiya tuh in eot in sruwasrik in Zion; Ac kutena mwet su lulalfongi ke el, ac fah tiana auli.”
7Vậy nên, cho anh em là kẻ đã tin, thì là đá quí; nhưng cho những kẻ không tin, thì Hòn đá mà bị thợ xây nhà loại ra, Bèn trở nên đá góc nhà, là Đá gây cho vấp váp, là đá lớn làm cho sa ngã;
7Eot se inge yohk sripa nu suwos su lulalfongi; a nu selos su tia lulalfongi: “Eot se su mwet musa sisla mu wangin sripa Ekla pa yohk sripa oemeet uh.”
8họ bị vấp đá đó, vì không vâng phục Đạo, và điều ấy đã định sẵn cho họ rồi.
8Ac sie pac Ma Simusla uh fahk, “Pa inge eot se ma ac oru mwet uh in tukulkul, Eot se ma ac oru elos in ikori.” Elos tukulkul mweyen elos tia lulalfongi ke kas sin God me; ma inge fal nu ke oakwuk lun God kaclos.
9Nhưng anh em là dòng giống được lựa chọn, là chức thầy tế lễ nhà vua, là dân thánh là dân thuộc về Đức Chúa Trời, hầu cho anh em rao giảng nhân đức của Đấng đã gọi anh em ra khỏi nơi tối tăm, đến nơi sáng láng lạ lùng của Ngài;
9Tuh kowos pa mutanfahl se ma suleyukla, mwet tol lun Tokosra, sie mutanfahl mutal, mwet lun God sifacna, suleyukla in sulkakin orekma wo lun God, su pangonkowosme liki lohsr nu ke kalem wolana lal.
10anh em ngày trước không phải là một dân, mà bây giờ là dân Đức Chúa Trời, trước không được thương xót, mà bây giờ được thương xót.
10Meet kowos tuh tia mwet lun God, a inge kowos mwet lal. Meet kowos tia etu ke pakoten lun God, a inge kowos eis tari pakoten lal.
11Hỡi kẻ rất yêu dấu, anh em như người ở trọ, kẻ đi đường, tôi khuyên phải kiêng những điều xác thịt ưa thích, là điều chống trả với linh hồn.
11Mwet kawuk luk, su moul oana mwet sac ac mwet fufahsryesr fin faclu, nga kwafe tuh kowos in sisla ma koluk su monuwos kena nu kac, su mweun lain moul in ngun.
12phải ăn ở ngay lành giữa dân ngoại, hầu cho họ là kẻ vẫn gièm chê anh em như người gian ác, đã thấy việc lành anh em, thì đến ngày Chúa thăm viếng, họ ngợi khen Đức Chúa Trời.
12Ouiyen moul lowos inmasrlon mwet selulalfongi uh enenu in arulana wo, elos fin mau akkolukye kowos ac fahk mu kowos mwet orekma koluk, elos ac akilen orekma wo lowos uh, ac kaksakin God ke Len se El ac tuku uh.
13Vì cớ Chúa, hãy phục theo mọi phép tắc loài người lập lên, hoặc vua, như đấng rất cao,
13Ke sripen Leum, kowos in akos mwet kol nukewa fin faclu — nu sin Tokosra Fulat, tuh el fulat oemeet,
14hoặc các quan, như người vua sai ra để phạt kẻ làm dữ và khen người làm lành.
14ac nu sin governor uh, su srisrngiyuk sin Tokosra Fulat tuh elos in kalyei mwet orekma koluk, ac kaksakin mwet orekma wo.
15Vì anh em làm điều lành để ngăn miệng những kẻ ngu muội dại dột, ấy là ý muốn của Đức Chúa Trời.
15Tuh God El lungse kowos in tulokinya sramsram lalfon lun mwet nikin, ke orekma wo lowos.
16Hãy ăn ở như người tự do, nhưng chớ dùng tự do làm cái màn che sự hung ác, song phải coi mình là tôi mọi Đức Chúa Trời.
16Kowos in moul oana mwet sukosok, tusruktu nimet orekmakin sukosok lowos in afinya kutena ma koluk, a kowos in moul oana mwet kohs lun God.
17Hãy kính mọi người; yêu anh em; kính sợ Đức Chúa Trời; tôn trọng vua.
17Kowos in sunakin mwet nukewa, ac lungse mwet lulalfongi wiowos, ac akfulatye God, ac sunakin Tokosra Fulat.
18Hỡi kẻ làm tôi tớ, hãy lấy lòng rất kính sợ mà phục theo chủ mình, chẳng những phục những chủ hiền lành mà thôi, lại phải phục người chủ khó tánh nữa.
18Kowos mwet kulansap, kowos in akos mwet kacto lowos an, ac arulana akfulatyalos — tia nu selos na su kulang ac nunak wo keiwos, a nu selos pac su kou.
19Vì nhân cớ lương tâm đối với Đức Chúa Trời, mà chịu khốn nạn trong khi bị oan ức, ấy là một ơn phước.
19Kowos fin mutangla ngal lun mwe keok su tia fal in orek nu suwos, mweyen kowos akilen lah pa inge ma lungse lun God nu suwos, ma inge ac mwe insewowo nu suwos.
20Vả, mình làm điều ác, bị đánh mà hay nhịn chịu, thì có đáng khoe gì: Nhưng nếu anh em làm lành, mà nhịn chịu sự khốn khó, ấy là một ơn phước trước mặt Đức Chúa Trời.
20Tuh mwe mea in kaksakinyuk kom, kom fin muteng ke anwuk ma orek nu sum ke sripen kom orala sie ma koluk? A kom fin muteng mwe keok su orek nu sum ke kom oru ma wo, God El ac fah akinsewowoye kom.
21anh em đã được kêu gọi đến sự đó, vì Đấng Christ cũng đã chịu khổ cho anh em, để lại cho anh em một gương, hầu cho anh em noi dấu chân Ngài;
21Pa inge ma God El pangon kowos nu kac, tuh Christ sifacna el tuh keok keiwos ac oakiya sie mwe srikasrak nu suwos tuh kowos fah fahsr in falkal.
22Ngài chưa hề phạm tội, trong miệng Ngài không thấy có chút chi dối trá;
22Wangin ma koluk el orala, ac wangin kas kikiap lohngyuk sel.
23Ngài bị rủa mà chẳng rủa lại, chịu nạn mà không hề hăm dọa, nhưng cứ phó mình cho Đấng xử đoán công bình;
23Ke mwet uh fahk kas in akkolukyal, el tia topkolos ke kas koluk; ke el keok, el tia fahk kutena kas in aksangeng, a el eisalang nu sin God, El su nununku suwohs.
24Ngài gánh tội lỗi chúng ta trong thân thể Ngài trên cây gỗ, hầu cho chúng ta là kẻ đã chết về tội lỗi, được sống cho sự công bình; lại nhân những lằn đòn của Ngài mà anh em đã được lành bịnh.
24Christ el sifacna usla ma koluk lasr in manol nu fin sakseng, tuh kut in wi ma koluk lasr uh misa ac moulkin moul suwoswos. Kowos kwela ke sripen kinet kacl.
25(2-24) Vì anh em vốn giống như con chiên lạc, mà bây giờ đã trở về cùng Đấng chăn chiên và Giám mục của linh hồn mình.
25Kowos tuh oana sheep su tuhlac, tusruktu inge folokinyukme kowos tuh kowos in fahsr tukun Mwet Shepherd, su karingin ngunuwos.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.