I Gi 4
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Kadede Kap (Pohnpeian New Testament and Psalms)
1Hỡi kẻ rất yêu dấu, chớ tin cậy mọi thần, nhưng hãy thử cho biết các thần có phải đến bởi Đức Chúa Trời chăng; vì có nhiều tiên tri giả đã hiện ra trong thiên hạ.
1KOMPOK kan, komail der pojon nen karoj, a kajaui jon en nen akan, ma re tapida jan ren Kot. Pwe jaukop likam me toto kaparapar jili jappa.
2Bởi điều nầy, hãy nhận biết Thánh Linh của Đức Chúa Trời: phàm thần nào xưng Đức Chúa Jêsus Christ lấy xác thịt mà ra đời, thần đó là bởi Đức Chúa Trời;
2let me komail ajaki Nen en Kot: Nen karoj, me kadede, me Iejuj Krijtuj koti don uduk, nan i me tapida jan ren Kot.
3còn thần nào không xưng Đức Chúa Jêsus, chẳng phải bởi Đức Chúa Trời. Đó là thần của Kẻ địch lại Đấng Christ, mà các con đã nghe rằng hầu đến, và hiện nay đã ở trong thế gian rồi.
3O nen karoj, me jo kadede, Iejuj a jota tapida jan ren Kot, Nan i krijtuj likam, duen me komail roner, me a pan pwarado, nan a mier jappa metet.
4Hỡi các con cái bé mọn, phần các con, là thuộc về Đức Chúa Trời, đã thắng được họ rồi, vì Đấng ở trong các con là lớn hơn kẻ ở trong thế gian.
4Jama ko, komail tapi jan ren Kot o kaloe irail edi, pwe i, me kotikot re omail, me lapa jan i, me mi ni jappa.
5Họ thuộc về thế gian, cho nên nói theo như thế gian, và người thế gian nghe họ.
5Irail me udan jappa, iei me irail lokaiaki jappa, o jappa kin ron irail.
6Chúng ta thuộc về Đức Chúa Trời: ai nhìn biết Đức Chúa Trời thì nghe chúng ta; còn ai chẳng hề thuộc về Đức Chúa Trời, thì chẳng nghe chúng ta. Aáy bởi đó chúng ta nhìn biết thần chân thật và thần sai lầm.
6Kitail tapi janer ren Kot, me aja Kot, kin ron kitail. A me jo jan ren Kot, jota kin ron kitail. Iei me kitail ajaki Nen en melel, o me udan likam.
7Hỡi kẻ rất yêu dấu, chúng ta hãy yêu mến lẫn nhau; vì sự yêu thương đến từ Đức Chúa Trời, kẻ nào yêu, thì sanh từ Đức Chúa Trời và nhìn biết Đức Chúa Trời.
7Kompok kan, kitail kin poke, pwe limpok tapi jan ren Kot, A amen amen, me kin limpok, ipwi jan ren Kot, o a aja Kot.
8Ai chẳng yêu, thì không biết Đức Chúa Trời; vì Đức Chúa Trời là sự yêu thương.
8Me jo kin limpok, jaja Kot, pwe Kot udan limpok.
9Lòng Đức Chúa Trời yêu chúng ta đã bày tỏ ra trong điều nầy: Đức Chúa Trời đã sai Con một Ngài đến thế gian, đặng chúng ta nhờ Con được sống.
9Ni met limpok en Kot janjal don kitail: Kot kotin porone don jappa japwilim a Ieroj eu, pwe kitail en maur ki i.
10Nầy sự yêu thương ở tại đây: ấy chẳng phải chúng ta đã yêu Đức Chúa Trời, nhưng Ngài đã yêu chúng ta, và sai Con Ngài làm của lễ chuộc tội chúng ta.
10Ietet pajon en limpok, kaidin kitail me tapin limpok on Kot, pwe a tapin pok on kitail, o poronedo japwilim a Ol, wiala jauntom pan dip atail.
11Hỡi kẻ rất yêu dấu, nếu Đức Chúa Trời đã yêu chúng ta dường ấy, thì chúng ta cũng phải yêu nhau.
11Kompok kan, ma Kot kin limpoki on kitail due met, kitail en pil limpok pena.
12Chưa hề có ai thấy Đức Chúa Trời; nếu chúng ta yêu nhau, thì Đức Chúa Trời ở trong chúng ta, và sự yêu mến Ngài được trọn vẹn trong chúng ta.
12Jota me kilaner Kot ni anjau eu. Ma kitail limpok pena, nan Kot pan kotikot re atail, o a limpok me unjokelar re atail.
13Bởi điều nầy chúng ta biết mình ở trong Ngài và Ngài ở trong chúng ta, là Ngài đã ban Thánh Linh Ngài cho chúng ta.
13I me kitail ajaki, me kitail mimieta re a, o a kotikot re atail, pwe a kotin kupurai don kitail er Nen i.
14Chúng ta lại đã thấy và làm chứng rằng Đức Chúa Cha đã sai Đức Chúa Con đặng làm Cứu Chúa thế gian.
14O je kilaner o kadededa, me Jam poronedo japwilim a Ol, en wiala Jaunkamaur pan jappa.
15Ví bằng có ai xưng Đức Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời, thì Đức Chúa Trời ở trong người, và người ở trong Đức Chúa Trời.
15Meamen me ponaja Iejuj, me Japwilim en Kot, nan Kot me kotikot re a, o i ren Kot.
16Chúng ta đã biết và tin sự yêu thương của Đức Chúa Trời đối với chúng ta. Đức Chúa Trời tức là sự yêu thương, ai ở trong sự yêu thương, là ở trong Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời ở trong người ấy.
16O kitail dedekier o kamelele limpok, me Kot kotin wiai on kitail. Kot me limpok, o me kin potopot ni limpok, kin potopot ren Kot, o Kot kotikot re a.
17Nầy vì sao mà sự yêu thương được nên trọn vẹn trong chúng ta, hầu cho chúng ta được lòng mạnh bạo trong ngày xét đoán, ấy là Chúa thể nào thì chúng ta cũng thể ấy trong thế gian nầy.
17let unjok en atail limpok: Kitail pan aima ni ran en kadeik, pwe duen i, iduen kitail nin jappa et.
18Quyết chẳng có điều sợ hãi trong sự yêu thương, nhưng sự yêu thương trọn vẹn thì cắt bỏ sự sợ hãi; vì sự sợ hãi có hình phạt, và kẻ đã sợ hãi thì không được trọn vẹn trong sự yêu thương.
18Jota majak ni limpok, pwe limpok melel kin kauja jan majak, pwe majak kin kareda kamekam. Ari, me kin majak, nan a limpok jaikenta unjokala.
19Chúng ta yêu, vì Chúa đã yêu chúng ta trước.
19Kitail kin limpok, pwe i me kotin tapiadar pok on kitail.
20Vì có ai nói rằng: Ta yêu Đức Chúa Trời, mà lại ghét anh em mình, thì là kẻ nói dối; vì kẻ nào chẳng yêu anh em mình thấy, thì không thể yêu Đức Chúa Trời mình chẳng thấy được.
20Ma amen kin inda: I kin pok on Kot, ap kin jempok on ri a, nan i me likam amen, pwe me kin jempok on ri a, me a kilaner, da a pan kak pok on Kot, me a jota kilaner?
21Chúng ta đã nhận nơi Ngài điều răn nầy: Ai yêu Đức Chúa Trời, thì cũng phải yêu anh em mình.
21A kujoned pot et kitail aleer jan re a, me i, me pok on Kot, en pil pok on ri a.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.