Kaudial 2
Kadede Kap (Pohnpeian New Testament and Psalms)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1INTIN won tounlan en momodijou en Epijuj: let majan en i, me kolekoleta ni lim a pali maun uju iju, o me kin weweid nan pun en lamp kold iju.
1Hãy viết cho thiên sứ của Hội thánh Ê-phê-sô rằng: Nầy là lời phán của Đấng cầm bảy ngôi sao trong tay hữu và đi chính giữa bảy chân đèn vàng:
2I aja om wiawia kan, o om dodok, o om dadaurata, o duen om jota kin mauki me jued akan, o koe kajaui ir adar, me aka wanporon, a me jo, ap diar ir ada me likam.
2Ta biết công việc ngươi, sự khó nhọc ngươi, sự nhịn nhục ngươi; ta biết ngươi không thể dung được những kẻ ác, lại biết ngươi đã thử những kẻ tự xưng là sứ đồ mà không phải là sứ đồ, ngươi đã rõ rằng chúng nó giả dối.
3O koe kin kanonama on o kadokeki mar ai, ap jota panadar.
3Ngươi hay nhịn nhục và chịu khó vì danh ta, không mệt nhọc chút nào.
4A iet me I juedeki re om: Koe muei janer tapin om limpok.
4Nhưng điều ta trách ngươi, là ngươi đã bỏ lòng kính mến ban đầu.
5Koe ari tamanda, me koe pupe wei janer, o kalula, o kapwaiada wiawia en maj o; a ma jo, I pan ko don uk, kajau wei jan om lamp jan ni deu a, ma koe jota kalula.
5Vậy hãy nhớ lại ngươi đã sa sút từ đâu, hãy ăn năn và làm lại những công việc ban đầu của mình; bằng chẳng vậy, ta sẽ đến cùng ngươi, nếu ngươi không ăn năn thì ta sẽ cất chân đèn của ngươi khỏi chỗ nó.
6A iet me koe kin wia, koe kin juedeki wiawia en nain Nikolauj akan, me I pil kin juedeki.
6Song ngươi có điều nầy khá, là ngươi ghét những việc làm của đảng Ni-cô-la, mà ta, ta cũng ghét nữa.
7Me jalon a mia, i en ron, me Nen o majani on momodijou kan! Me dadaurata, I pan ki on i, en tunole jan tuka en kamaur, me mi nan paradij en Kot.
7Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội thánh rằng: Kẻ nào thắng, ta sẽ cho ăn trái cây sự sống ở trong Ba-ra-đi của Đức Chúa Trời.
8Intin won tounlan en momodijou en Jmirna: let majan en men maj o men mur, me melar ap mauredar.
8Hãy viết cho thiên sứ của Hội thánh Si-miệc-nơ rằng: Nầy là lời phán của Đấng trước hết và Đấng sau cùng, Đấng chết rồi mà đã sống lại:
9I aja om kamekam, o om jamama ari. jo, koe me kapwapwa, o lalaue en ir, me kin inda, dene irail men Juj, a kaidin irail men Juj, pwe pwin en Jatan eu.
9Ta biết sự khốn khó nghèo khổ của ngươi (dầu ngươi giàu có mặc lòng), và những lời gièm pha của kẻ xưng mình là người Giu-đa, mà k” thực không phải, chúng nó vốn thuộc về hội quỉ Sa-tan.
10Koe der majak, me koe pan kalokolokki. Kilan, tewil o pan kajelon on nan imaten akai komail, pwe komail en kajonejon, o komail pan kalokolok ran eijok. Dadaurata lel mela, I ap pan ki on uk mar en maur joutuk.
10Ngươi chớ ngại điều mình sẽ chịu khổ. Nầy, ma quỉ sẽ quăng nhiều kẻ trong các ngươi vào ngục, hầu cho các ngươi bị thử thách; các ngươi sẽ bị hoạn nạn trong mười ngày. Khá giữ trung tín cho đến chết, rồi ta sẽ ban cho ngươi mũ triều thiên của sự sống.
11Me jalon a mia, i en ron, me Nen o majani on momodijou kan! Me dadaurata, jota pan kamekam kila mela kariau.
11Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội thánh rằng: Kẻ nào thắng, sẽ chẳng bị hại gì về lần chết thứ hai.
12Intin won tounlan en momodijou en Perkamuj: let majan en me na kodlaj kon o au riau mia:
12Cũng hãy viết cho thiên sứ của Hội thánh Bẹt-găm rằng: Nầy là lời phán của Đấng có thanh gươm nhọn hai lưỡi:
13I aja, waja koe kaujon ia, ni wajan mol en Jatan, o koe kin podidi on mar ai, o koe jota kamama kida om pojon ia pil jo ni ran oko, me Antipaj, ai jaunkadede melel men, kamekamelar nan pun omail, waja Jatan kin kaujon ia.
13Ta biết nơi ngươi ở; đó là ngôi của quỉ Sa-tan; ngươi đã vững lòng tôn danh ta, không chối đạo ta; dầu trong những ngày đó, An-ti-ba, kẻ làm chứng trung thành của ta đã bị giết nơi các ngươi, là nơi Sa-tan ở.
14A ekij tikitik ta, me I juedeki re om: Akai mi re om, me kin apwali lamalam en Pileam, me padaki on Palak, en kajedi on mon kadaudok en Ijrael kajapun par, ren tunole kijin man, me olu oner dikedik en ani kan, o ren nenek.
14Nhưng ta có điều quở trách ngươi; vì tại đó, ngươi có kẻ theo đạo Ba-la-am, người ấy dạy Ba-lác đặt hòn đá ngăn trở trước mặt con cái Y-sơ-ra-ên, đặng dỗ chúng nó ăn thịt cúng thần tượng và rủ ren làm điều dâm loạn.
15O pil akai mi re om, me pil apwali lamalam en nain Nikolauj akan.
15Ngươi lại cũng có những kẻ theo đạo Ni-cô-la.
16Ari, kalula! A ma jo, I pan madan won uk o pepei on irail ki kodlaj en au ai.
16Vậy, hãy ăn năn đi, bằng chẳng, ta sẽ đến mau kíp cùng ngươi, lấy thanh gươm ở miệng ta mà giao chiến cùng chúng nó.
17Me jalon a mia, i en ron, me Nen o majani on momodijou kan! Me dadaurata, I pan ki on i mana jojanjal, o I pan ki on I takai puetepuet eu o nan takai mar kap intinidier, jota amen me dedeki, i eta, me pan ale.
17Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội thánh: Kẻ nào thắng, ta sẽ ban cho ma-na đang giấu kín; và ta sẽ cho nó hòn sỏi trắng, trên đó có viết một tên mới, ngoài kẻ nhận lấy không ai biết đến.
18Intin won tounlan en momodijou en Tiatira: let majan en me Japwilim en Kot, me jilan I rajon umpul en kijiniai o aluwilu a rajon praj linan.
18Ngươi cũng hãy viết thơ cho thiên sứ của Hội thánh Thi-a-ti-rơ rằng: Nầy là lời phán của Con Đức Chúa Trời, là Đấng mắt như ngọn lửa, và chân như đồng sáng:
19I aja om wiawia kan, o om limpok, o om pojon, o om papa, o om kanonama, o duen om wiawia men mur, me to to jan men maj.
19ta biết công việc ngươi, lòng thương yêu ngươi, đức tin ngươi, sự hầu việc trung tín ngươi, lòng nhịn nhục ngươi, và công việc sau rốt ngươi còn nhiều hơn công việc ban đầu nữa.
20A iet me I juedeki re om: Koe kin mueid on li Ijepel, me kin inda duen pein i, dene i jaukop amen, me kin padaki o kotaue nai ladu kan, ren nenek, o ren tunole, me olu on dikedik en ani.
20Nhưng điều ta trách ngươi, ấy là ngươi còn dung cho Giê-sa-bên, người nữ ấy xưng mình là tiên tri, dạy dỗ và phỉnh phờ tôi tớ ta, đặng rủ chúng nó phạm tà dâm, và ăn thịt cúng thần tượng.
21O I ki on i er anjau en kalula, a a kan kalukila a nenek.
21Ta đã cho nó thì giờ để ăn năn, mà nó chẳng muốn ăn năn điều tà dâm nó!
22Kilan, I pan kajedi i nan loj, o irail me kin kamal re a, nan kamekam lapalap, ma re jota pan kalukila wiawia en Ijepel akan.
22Nầy, ta quăng nó trên giường đau đớn, và phàm kẻ nào phạm tội tà dâm với nó, mà không ăn năn việc làm của nó, thì ta cũng quăng vào tai nạn lớn.
23O I pan kamekila na jeri kan kamekam eu. Ari, momodijou karoj pan ajaki, me nai i, me kin ireron nan mudilik o monion kan, o I pan ki on amen amen komail iran omail wiawia kan.
23Ta sẽ đánh chết con cái nó; và mọi Hội thánh sẽ rõ ta là Đấng dò biết lòng dạ loài người; và ta sẽ tùy công việc của mỗi người trong các ngươi mà báo lại.
24A I indai on komail tei kan, me mi Tiatira, karoj me jota apwali lamalam wet, me jo dedeki widin en Jatan, duen ar lokaia. I jota pan ki on komail eu katoutou pa ’mail.
24Nhưng, với các ngươi là kẻ khác ở tại Thi-a-ti-rơ, chưa từng nhận lấy đạo đó và chưa biết điều sâu hiểm của quỉ Sa-tan, như chúng vẫn nói, thì ta phán dặn rằng ta không gán cho các ngươi gánh nặng khác.
25A me mi re omail, kolekoleta, I lao pwarado.
25Chỉn các ngươi khá bền giữ những điều mình đã có, cho tới chừng ta đến.
26O me dadaurata o me kanekid ai wiawia kan lel imwi, i me I pan kajapwilada pon wei kan.
26Kẻ nào thắng, và giữ các việc của ta đến cuối cùng, ta sẽ ban cho quyền trị các nước:
27A pan kaun kida ir jokon mata, due dal en jaupal kin ola kaualap, o due I pil aleer mana jan ren Jam ai,
27kẻ đó sẽ cai trị bằng một cây gậy sắt, và sẽ phá tan các nước như đồ gốm, khác nào chính ta đã nhận quyền cai trị đó nơi Cha ta.
28I ap pan ki on i uju ran.
28Ta sẽ cho kẻ ấy ngôi sao mai.
29Me jalon a mia, i en ron me Nen o majani on momodijou kan!
29Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội thánh!
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.