Johanningundru 15
Testamenta Marra (Dieri New Testament)Translation
Testamenta Marra (Dieri New Testament)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Ngani waina nindri morlalu nganai, ja Ngaperi ngakani waina maru najinajibanietja nganai.
1Ta là gốc nho thật, Cha ta là người trồng nho.
2Waina ngunanguna pilki ja pilki, nulu wata tandra mandranani, nina Nulia dukarai; ja pilki ja pilki nulu tandra mandranani, nina Nulia kulirkai, nulu tandra morla mandrananto.
2Hễ nhánh nào trong ta mà không kết quả thì Ngài chặt hết; và Ngài tỉa sửa những nhánh nào kết quả, để được sai trái hơn.
3Jura kulikiri nganai nunkanipini jaurandru, nina ngato jurangu kaukaubana warai.
3Các ngươi đã được trong sạch, vì lời ta đã bảo cho.
4Ngakangu ngamanau ja ngani jurangu! Worderu waina ngunanguna ngandandariai muntali tandra mandrala nau wata waina nindrini paranani, jeruja bakana jura, jura wata ngakangu ngamanani.
4Hãy cứ ở trong ta, thì ta sẽ ở trong các ngươi. Như nhánh nho, nếu không dính vào gốc nho, thì không tự mình kết quả được, cũng một lẽ ấy, nếu các ngươi chẳng cứ ở trong ta, thì cũng không kết quả được.
5Ngani waina nindri nganai, jura ngunanguna. Worana ngakangu ngamai ja ngani nunkangu, nulupini tandra marapu mandrai; ngangau ngakangu panini jura ngandandariai ngankala.
5Ta là gốc nho, các ngươi là nhánh. Ai cứ ở trong ta và ta trong họ thì sinh ra lắm trái; vì ngoài ta, các ngươi chẳng làm chi được.
6Kulno wata ngakangu ngamanani, nina Nulia palarani worala nganai ngunanguna jeribaka, ja nau mujarila nganai; ja tanali nina kampala nganai ja nina turuni worala nganai, ja nau jerkila nganai.
6Nếu ai chẳng cứ trong ta thì phải ném ra ngoài, cũng như nhánh nho; nhánh khô đi, người ta lượm lấy, quăng vào lửa, thì nó cháy.
7Jura ngakangu ngamanani ja jaura ngakani jurangu ngamalkanani: Mina jura jertapateriai jura ngatjinanto, ja jenia jurangu pantjila nganai.
7Ví bằng các ngươi cứ ở trong ta, và những lời ta ở trong các ngươi, hãy cầu xin mọi điều mình muốn, thì sẽ được điều đó.
8Jeruja Ngaperi ngakani pirna nganai, jura tandra marapu mandranani, ja jura mili ngakani ngananani.
8Nầy, Cha ta sẽ được sáng danh là thể nào: ấy là các ngươi được kết nhiều quả, thì sẽ làm môn đồ của ta vậy.
9Worderu Ngaperali ngana ngantjana wonti, jeruja ngato jurana ngantjana warai: ngantjanani ngakanani wonki ngamanau!
9Như Cha đã yêu thương ta thể nào, ta cũng yêu thương các ngươi thể ấy; hãy cứ ở trong sự yêu thương của ta.
10Jura jirijiribani jaura ngakani ngamalkanani, jura ngantjanani ngakanani ngamanani; worderu ngato Ngaperaia ngakanaia jirijiribani jaura ngamalkana warai, ja ngantjanani nunkanani ngamai.
10Nếu các ngươi vâng giữ các điều răn của ta, thì sẽ ở trong sự yêu thương ta, cũng như chính ta đã vâng giữ các điều răn của Cha ta, và cứ ở trong sự yêu thương Ngài.
11Tananapini ngato jurangu kaukaubana warai, ngangau ngakani mankini jurangu nganananto, ja jurani mankini manamiri pantjinanto.
11Ta nói cùng các ngươi những điều đó, hầu cho sự vui mừng của ta ở trong các ngươi, và sự vui mừng các ngươi được trọn vẹn.
12Naupini jirijiribani jaura ngakani nganai: Jura ngantjamalinanto, worderu ngato jurana ngantjana warai.
12Điều răn của ta đây nầy: Các ngươi hãy yêu nhau, cũng như ta đã yêu các ngươi.
13Wata kulnujeli ngantjani morla pirna ngamalkai nunkangu, nau tepi nunkani jinkiteriai kamanelini nunkanani.
13Chẳng có sự yêu thương nào lớn hơn là vì bạn hữu mà phó sự sống mình.
14Jura kamaneli ngakani nganai, jura ngankanani mina ngato jurangu jirijiribai.
14Ví thử các ngươi làm theo điều ta dạy, thì các ngươi là bạn hữu ta.
15Ngato jurana wata morla mili dikai, ngangau mili wata milkila mina kapara nunkani ngankai; jurana ngato kamaneli dikana warai, ngangau pratjana, mina ngato ngakani Ngaperandru ngaranala, ngato jurangu tinkari ngankana warai.
15Ta chẳng gọi các ngươi là đầy tớ nữa, vì đầy tớ chẳng biết điều chủ mình làm; nhưng ta đã gọi các ngươi là bạn hữu ta, vì ta từng tỏ cho các ngươi biết mọi điều ta đã nghe nơi Cha ta.
16Wata jura ngana kalkalkana wonti, a‐ai, ngato jurana kalkalkana wonti ja jurana kurana wonti jura wapananto ja tandra mandrananto, ja jurani tandra parananto: Ngangau minakulno jura ngakani talani Ngaperani ngatjinani, Nulia jurangu jinkinani. (Ngantjani‐jaura Simonani ja Judani ditjini.)
16Aáy chẳng phải các ngươi đã chọn ta, bèn là ta đã chọn và lập các ngươi, để các ngươi đi và kết quả, hầu cho trái các ngươi thường đậu luôn: lại cũng cho mọi điều các ngươi sẽ nhân danh ta cầu xin Cha, thì Ngài ban cho các ngươi.
17Ninapini ngato jurangu jirijiribai: Jura ngantjamalinanto.
17Ta truyền cho các ngươi những điều răn đó, đặng các ngươi yêu mến lẫn nhau vậy.
18Mitala jurangu kalakalarinani, ngujamanau, tanali ngakangu kalakalarina warai jurangu ngopera.
18Ví bằng người đời ghét các ngươi, thì hãy biết rằng họ đã ghét ta trước các ngươi.
19Jura mitandru ngananani, mitala nunkanina ngantjanani; ngangau jura wata mitandru nganai, a‐ai, ngato jurana mitandru kalkalkana wonti, jendrangundruja mitala jurangu kalakalariai.
19Nếu các ngươi thuộc về thế gian, thì người đời sẽ yêu kẻ thuộc về mình; nhưng vì các ngươi không thuộc về thế gian và ta đã lựa chọn các ngươi giữa thế gian, bởi cớ đó người đời ghét các ngươi.
20Ninapini jaura ngundranau nina ngani jurangu jatana warai: Mili wata morla pirna nganai kaparani nunkanani. Tana ngakangu tirikaripaterina warai tana bakana jurangu tirikaripaterila nganai; tanali jaura ngakani ngamalkana warai, tanali bakana jurani ngamalkala nganai.
20Hãy nhớ lời ta đã nói cùng các ngươi: Đầy tớ chẳng lớn hơn chủ mình. Nếu họ đã bắt bớ ta, ắt cũng bắt bớ các ngươi; bằng họ đã giữ lời ta, ắt cũng giữ lời các ngươi.
21Jenia pratjana tanali ngankala nganai ngakani talandru, ngangau tanali nina wata ngujamai, Nulia ngana jinpanala.
21Nhưng vì danh ta họ sẽ lấy mọi điều đó đãi các ngươi, bởi họ không biết Đấng đã sai ta đến.
22Ngani wata wokaranani ja tanangu jaura kaukaubanani, tanali wata madlentji ngamalkanani, karari tanali wata morla jataterila ngamalkai tanani madlentjandru.
22Nếu ta không đến và không phán dạy họ, thì họ chẳng có tội lỗi gì; song bây giờ họ không có thể chữa chối được tội lỗi mình.
23Worana ngakangu kalakalariai, bakana ngakani Ngaperani kalakalariai.
23Kẻ nào ghét ta cũng ghét Cha ta nữa.
24Ngato wata tanana ngankani tanangu terti ngankanani, tanana wata kulno ngurujeli ngankana warai, tanana wata madlentji ngamalkanani; karari tanali najina warai ja bakana kalakalarina warai ngakangu ja ngakani Ngaperani.
24Ví thử ta không làm giữa họ những việc mà chưa có người khác làm, thì họ vô tội, nhưng bây giờ họ đã thấy các việc ấy, và lại ghét ta cùng Cha ta.
25Ngangau naupini jaura, tanani jirijiribani jaurani dakanala parai, morlalu pantjinanto: Tanali ngakangu baku kalakalarina warai. (Ngantjani‐jaura Exaudi ditjini.)
25Dường ấy, để cho ứng nghiệm lời đã chép trong luật pháp họ rằng: Họ ghét ta vô cớ.
26Ja Ngankalkanipirna matja wokarana, ninapini ngato jurangu jinpala nganai Ngaperandru, Jaola morlaluta, Nauja Ngaperandru dunkai, Nulia ngakangundru tinkari ngankala nganai.
26Khi nào Đấng Yên ủi sẽ đến, là Đấng ta sẽ bởi Cha sai xuống, tức là Thần lẽ thật ra từ Cha, ấy chính Ngài sẽ làm chứng về ta.
27Ja jura bakana tinkari ngankai, ngangau jura ngoperandru ngakangunto ngamai.
27Còn các ngươi cũng sẽ làm chứng về ta, vì các ngươi đã ở cùng ta từ lúc ban đầu vậy.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.