I Gi
Chapter 2

I Gi

Vietnamese Bible (1923 t…
vs Testamenta Marra (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Testamenta Marra (Dieri New Testament)
1Hỡi con cái bé mọn ta, ta viết cho các con những điều nầy, hầu cho các con khỏi phạm tội. Nếu có ai phạm tội, thì chúng ta có Đấng cầu thay ở nơi Đức Chúa Cha, là Đức Chúa Jêsus Christ, tức là Đấng công bình.
1Ngakani kupa waka worajai, jenia ngato jurangu dakai, jura wata madlentji ngankananto. Ja kulnujeli madlentji ngankanani, ngaiana Jurajuralkanipirna ngamalkai Ngaperani, Jesus Christus, Nauja talku nganai.
2Aáy chính Ngài làm của lễ chuộc tội lỗi chúng ta, không những vì tội lỗi chúng ta thôi đâu, mà cũng vì tội lỗi cả thế gian nữa.
2Ja Nauja munta kalala nganai ngaiananani madlentjani, ja wata windri ngaiananani, a‐ai, bakana mitala warupotulani.
3Nầy tại sao chúng ta biết mình đã biết Ngài, ấy là tại chúng ta giữ các điều răn của Ngài.
3Ja nunkangupini ngaiana ngujamai, ngaiana ninaia ngujamana warai, ngaiana nunkani jirijiribani jaura ngamalkanani.
4Kẻ nào nói: Ta biết Ngài, mà không giữ điều răn Ngài, là người nói dối, lẽ thật quyết không ở trong người.
4Warle jatai: Ngato ninaia ngujamai, ja nunkani jirijiribani jaura wata ngamalkai, nau jedikantji nganai, ja nunkangu wata morlalula nganai.
5Nhưng ai giữ lời phán Ngài, thì lòng kính mến Đức Chúa Trời thật là trọn vẹn trong người ấy. Bởi đó, chúng ta biết mình ở trong Ngài.
5Warle nunkani jaura ngamalkai, nunkangupini morlalu Godaia ngantjani manamiri nganai. Nunkangupini ngaiana ngujamai, ngaiana nunkangu nganai.
6Ai nói mình ở trong Ngài, thì cũng phải làm theo như chính Ngài đã làm.
6Warle jatai, nau nunkangu nganai, nau bakana wirarinanto worderu Naupara wirarina wonti.
7Hỡi kẻ rất yêu dấu, ấy chẳng phải là điều răn mới mà ta viết cho anh em, bèn là điều răn cũ anh em đã nhận lấy từ lúc ban đầu; điều răn cũ nầy tức là lời anh em đã nghe.
7Ngantjalu, wata jirijiribani jaura marra ngato jurangu dakai, a‐ai, jirijiribani jaura warula, ninaia jura ngopera ngamalkana wonti. Naupini jirijiribani jaura warula jaura nganai, ninaia jura ngarana wonti.
8Song le, ta cũng viết cho anh em điều răn mới, là điều chân thật trong Chúa và trong anh em, vì sự tối tăm đã tan rồi, và sự sáng thật đã soi sáng.
8Nakaldra ngato jurangu jirijiribani jaura marra dakai, mina morlalu nganai nunkangu ja jurangu, ngangau ngalpuru kutingai, ja praitji morlalu matja mintjiai.
9Kẻ nào nói mình trong sự sáng, mà ghét anh em mình thì còn ở trong sự tối tăm.
9Worana jatai, ngani praitjani nganai, ja nau nunkani ngatatani kalakalariai, nau ngalpurani nganai kararielu.
10Ai yêu mến anh em mình, thì ở trong sự sáng, nơi người đó chẳng có điều chi gây cho vấp phạm.
10Warle ngatata nunkani ngantjai, nau praitjani nganai, ja dakaterini wata nunkangu nganai.
11Nhưng ai ghét anh em mình, thì ở trong sự tối tăm, làm những việc tối tăm, và không biết mình đi đâu, vì bóng tối tăm đã làm mù mắt người.
11Worana ngatatani nunkanani kalakalariai, nau ngalpurani nganai, ja ngalpurani wirariai, ja ko nganai wodajeri nau wapai, ngangau ngalpurali nunkani milki butju ngankana warai.
12Hỡi các con cái bé mọn ta, ta viết cho các con, vì tội lỗi các con đã nhờ danh Chúa được tha cho.
12Ngato jurangu, kupa waka worajai, dakala wapaia, jura madlentji kalinganila maninala nunkani talandru.
13Hỡi các phụ lão, tôi viết cho các ông, vì các ông đã biết Đấng có từ lúc ban đầu. Hỡi kẻ trẻ tuổi, ta viết cho các ngươi, vì các ngươi đã thắng được ma quỉ.
13Ngato jurangu, ngaperi worangu, dakala wapaia, ngangau jura ninaia ngujamana wonti, Nauja ngoperandru nganai. Ngato jurangu, teri worangu, dakala wapaia, ngangau jura kutji kalalu ngankana wonti. Ngato jurangu, kupa waka worajai, dakala wapaia, ngangau jura Ngaperi matja ngujamana.
14Hỡi con trẻ, ta đã viết cho các con, vì các con đã biết Đức Chúa Cha. Hỡi phụ lão, tôi đã viết cho các ông, vì các ông đã biết Đấng có từ lúc ban đầu. Hỡi kẻ trẻ tuổi, ta đã viết cho các ngươi, vì các ngươi là mạnh mẽ, lời Đức Chúa Trời ở trong các ngươi, và các ngươi đã thắng được ma quỉ.
14Ngato jurangu, ngaperi worangu, dakana warai, ngangau jura ninaia matja ngujamana, Nauja Ngaperandru nganai. Ngato jurangu, teri worangu, dakana warai, ngangau jura ngurunguru nganai, ja Godaia jaura jurangu parai, ja jura kutji kalalu ngankana warai.
15Chớ yêu thế gian, cũng đừng yêu các vật ở thế gian nữa; nếu ai yêu thế gian, thì sự kính mến Đức Chúa Cha chẳng ở trong người ấy.
15Wata mita ngantjanau, ja mina mitani nganai. Kulnujeli mita ngantjanani, nunkangu wata Ngaperaia ngantjani nganai.
16Vì mọi sự trong thế gian, như sự mê tham của xác thịt, mê tham của mắt, và sự kiêu ngạo của đời, đều chẳng từ Cha mà đến, nhưng từ thế gian mà ra.
16Ngangau warupoto mina mitani nganai, palkuja milkirina ja milkia milkirina ja tepia pirna ngundraterini wata Ngaperandru nganai, a‐ai, mitandru nganai.
17Vả thế gian với sự tham dục nó đều qua đi, song ai làm theo ý muốn Đức Chúa Trời thì còn lại đời đời.
17Ja mita mudingai nunkani milkirinani jela; ja warle Godaia jertapaterina ngankai, nau ngurali ngamala nganai.
18Hỡi các con cái ta, giờ cuối cùng là đây rồi, các con đã nghe nói rằng Kẻ địch lại Đấng Christ phải đến. Vừa lúc bây giờ, có nhiều kẻ địch lại Đấng Christ; bởi đó, chúng ta biết rằng ấy là giờ cuối cùng.
18Kupa waka worajai, mudani ditji matja nganai, ja worderu jura matja ngarana, tatakani Christus kulno wokarala nganai, ja karari bakana tatakani Christus marapu terkakana warai: jendrangundruja ngaiana ngujamai, mudani ditji nganai.
19Chúng nó đã từ giữa chúng ta mà ra, nhưng vốn chẳng phải thuộc về chúng ta; vì nếu chúng nó thuộc về chúng ta, thì đã ở cùng chúng ta; song điều đó đã xảy đến, hầu cho tỏ ra rằng mọi kẻ ấy chẳng thuộc về chúng ta vậy.
19Tana ngaianangundru dunkana warai, ja tana wata ngaianangundru kantji nganana warai; ngangau tana kantji ngaianangundru ngananani, tana ngaianangunto jela ngamanani, ja tana tinkari pantjinanto, wata pratjana ngaianangundru nganai.
20Về phần các con, đã chịu xức dầu từ nơi Đấng thánh, thì đã biết mọi sự rồi.
20Ja jura wiribani ngamalkai nunkangundru, Nauja kulikiri nganai, ja jura jenia pratjana milkila.
21Ta viết cho các con, chẳng phải vì các con không biết lẽ thật, nhưng vì các con biết lẽ thật, và hiểu rằng chẳng có sự dối trá nào bởi lẽ thật mà ra.
21Ngato jurangu wata dakana warai, ngangau jura morlalula wata milkila, a‐ai, ngangau jura ninaia ngujamai, ja ngangau jedi jaura pratjana wata morlalulandru nganai.
22Ai là kẻ nói dối, há chẳng phải kẻ chối Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ sao? Aáy đó là Kẻ địch lại Đấng Christ, tức là kẻ chối Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con!
22Worana jedikantji nganai, windri nau, nulu kutikutibai, Jesus kantji Christus nganai? Naupini tatakani Christus nganai, nulu Ngaperi ja Ngatamura kutikutibai.
23Ai chối Con, thì cũng không có Cha: ai xưng Con, thì cũng có Cha nữa.
23Pratjananulu, warle Ngatamura kulikutibai, bakana Ngaperi wata ngamalkai; warle Ngatamura dikai, nulu bakana Ngaperi ngamalkai.
24Còn như các con, điều mình đã nghe từ lúc ban đầu phải ở trong các con. Nếu điều các con đã nghe từ lúc ban đầu ở trong mình, thì các con cũng sẽ ở trong Con và trong Cha.
24Mina jura ngarana wonti ngoperandru, jenia jurangu paraiatimai; jurangu paranani, mina jura ngoperandru ngarana warai, jeruja bakana jura Ngatamurani ja Ngaperani ngamala nganai.
25Lời hứa mà chính Ngài đã hứa cùng chúng ta, ấy là sự sống đời đời.
25Ja naupini talpadakani nganai, ninaia Nulia ngaianangu talpadakana wonti: Tepi ngurali.
26Ta đã viết cho các con những điều nầy, chỉ về những kẻ lừa dối các con.
26Jenia ngato jurangu dakana warai tanangundru, tanali jurana karkarkai;
27Về phần các con, sự xức dầu đã chịu từ nơi Chúa vẫn còn trong mình, thì không cần ai dạy cho hết; song vì sự xức dầu của Ngài dạy các con đủ mọi việc, mà sự ấy là thật, không phải dối, thì hãy ở trong Ngài, theo như sự dạy dỗ mà các con đã nhận.
27Ja jenia wiribani, ninaia jura nunkangundru matja manina, jurangu paraiatimai, ja jura wata kana kulno ngamalkananto, nulu jurangu ngujangujara jinkinanto, a‐ai, worderu wiribanali jurangu ngujangujara jinkina warai pratjanandru, mina morlalu nganai ja jedini pani, ja worderu nulia jurangu ngujangujara jinkina warai, jeruja nunkangu ngamaiatinimai.
28Vậy bây giờ, hỡi các con cái bé mọn ta, hãy ở trong Ngài, hầu cho, nếu Ngài hiện đến, chúng ta cũng đầy sự vững lòng, không bị hổ thẹn và quăng xa khỏi Ngài trong k” Ngài ngự đến.
28Ja karari, kupa waka worajai, nunkangu ngamanau, ngangau, Nauja tinkari ngankaterinani, ngaiana murlali nganananto ja wata nintali pantjinanto nunkangu, nunkani wokaranani.
29Ví bằng các con biết Ngài là công bình, thì hãy biết rằng người nào làm theo sự công bình, ấy là kẻ bởi Ngài mà sanh ra.
29Jura milkila ngananani, Nauja talku nganai, jeruja ngujamanau, bakana warle talkula ngankai, nau bakana nunkangundru dankana wonti.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.